Thứ Tư, 9 tháng 12, 2009

8. THỜI TRANG THẬP NIÊN 1990 – 2000


Từ cuối thế kỉ 20, sự lựa chọn phong cách thời trang của người tiêu dùng đã trở nên vô cùng phong phú. Quần áo có thể được mua từ những cửa hàng thời trang cao cấp cho đến các shop thời trang bình dân. Thành viên của những nhóm thời trang này đa số là thanh thiếu niên và người trẻ tuổi. Trong khi đó một nhóm người giàu có luôn trung thành với một nhà thiết kế nhất định, thường được gọi là các fashionistas, cũng được coi là thành viên của một phong cách thời trang.
Thách thức của ngành công nghiệp thời trang trong thiên niên kỉ mới:

Đến năm 2000, một phần trong số những nhà thiết kế nổi lên từ thập niên 80 phải đứng trước nhiều khó khăn. Các vấn đề mà các nhà sản xuất thời trang hàng đầu gặp phải có thể được phân ra làm 4 xu hướng, các xu hướng này đã ảnh hưởng rất nhiều đến sự thay đổi trong lĩnh vực thời trang. Đó là:

- Phụ nữ bắt đầu rời bỏ những bộ váy thời trang và hướng về quần áo tiện dụng trong công việc và phong cách sống.
- Quần áo hàng ngày trở nên thông dụng hơn.
- Hàng hiệu không còn được đánh giá cao.
- Và sự thành công của một số nhà thiết kế và sản xuất, những người tập trung vào loại quần áo mà người tiêu dùng sẵn sàng bỏ tiền ra mua.

Các ảnh hưởng của thời trang trong thập niên 90:

Phong cách của người Mỹ da màu

Sau một thời gian bị lãng quên, thời trang lấy nguồn cảm hứng từ người Mỹ da màu đã trở lại vào những năm 1980, phần nhiều là do ảnh hưởng của giới trẻ thành thị da màu và các ca sĩ nhạc rap thường xuyên xuất hiện trên MTV. Giới trẻ bắt đầu đi giày Adidas, mặc áo pull rộng với vòng vàng và những đôi bông tai lớn.

Quần áo Kente, một loại quần áo truyền thống nhiều màu sắc của người Châu Phi trở nên cực kì phổ biến. Đến những năm 90, những fan hâm mộ của nhạc hip hop, cả những người da màu và da trắng, bắt đầu mặc những bộ quần áo rộng thùng thình với logo của các đội bóng đá và bóng chày, với những chiếc mũ bóng chày đội ngược, giày không buộc dây và mang ba lô da. Mốt tóc thắt bím nhỏ, thường được ưa chuộng bởi một nhóm tôn giáo và nhạc công Reggea từ Jamaica cũng được một số người Mỹ da màu và da trắng sử dụng.

Xỏ lỗ và xăm mình

Một vài nhóm thời trang coi việc xỏ lỗ và hình xăm như một phần trong phong cách của mình. Một bộ phận cá nhân tự cho mình là người nguyên thủy hiện đại và chọn các loại hình nghệ thuật này như là sự tôn kính đến người cổ đại. Từ thập niên 90, xỏ lỗ và xăm mình đã trở thành một hình thức thời trang cho cả nam và nữ. Đối với những ai chỉ muốn sử dụng phong cách này một cách tạm thời, họ có thể kiếm cho mình một hình xăm xóa được.

Các giai đoạn thời trang trong thập niên 90:

Thời trang đầu những năm 1990

Sự kiện nổi bật nhất của thời trang giai đoạn này là sự phát triển của dòng thời trang Grunge vào năm 1992 (Grunge là một thể loại nhạc rock, hòa trộn giữa Punk và Heavy Metal - NV). Thời trang Grunge dành cho cả hai giới, bao gồm những chiếc áo sơ mi bằng vải flannel (loại vải mềm dệt thưa) và những loại trang phục mặc ngoài thông thường khác, thường được mua tại các cửa hàng đồ cũ. Nhìn chung phong cách này trông cẩu thả và phi giới tính. Phong cách thời trang này được nhãn hiệu thời trang Nirvana của bang Seatle và gương mặt đại diện của hãng là ca sĩ Kurt Cobain làm cho nổi tiếng. Phong cách Grunge kéo dài cho đến cuối thập kỷ. Phong cách Retro (hướng về quá khứ) lấy cảm hứng từ thập niên 1960 và 1970 cũng rất được ưa chuộng trong thập niên 90.

Vào đầu thập niên 90, như là một sự thay thế cho phong cách Gurnge, những chiếc váy ôm bằng Lycra (một thương hiệu nổi tiếng của vải thun) hay những chiếc váy ngắn bằng da, thường được gọi là váy ống, loại váy bắt đầu trở thành mốt vào giữa thập niên 80, tiếp tục được ưa chuộng. Đặc biệt là ở Châu Âu, loại váy này thường đi với áo cộc tay có vạt dài, loại áo được mặc suốt trong cả thập kỷ này. Những chiếc áo sát nách, thường may bằng lụa hoặc lụa nhân tạo cũng rất thời trang. Dây nịt cỡi ngựa cũng là một loại trang sức hợp mốt. Váy ngắn bằng vải Lycra cũng được ưa chuộng, và chúng thường đi cùng với những chiếc áo ngực đúc. Những chiếc váy tiệc nhẹ được trang trí bằng ren và bằng những đồng xu cũng được ưa thích vào những năm 1990 – 1991.

Lấy cảm hứng từ vai diễn Catwoman của Michelle Pfeiffer trong bộ phim Batman Returns năm 1992, bộ trang phục người mèo trở nên rất phổ biến. Ca sĩ người Anh Victoria Beckham sau đó cũng mặc những bộ trang phục người mèo trong các video của Spice Girls. Những bộ trang phục này được may bằng nhựa Latex, PVC hoặc Spandex và thường được mặc chung với giày bốt ống cao. Từ đầu thập kỷ, giày bốt bắt đầu trở thành loại giày mùa đông được ưa chuộng trong suốt thập niên 90.

Những chiếc áo jacket bằng da đen cho đàn ông và đàn bà đã trở thành xu hướng thời thượng. Cũng giống như trong thập kỷ trước, ca sĩ người Mỹ Madonna tiếp tục trở thành nguồn cảm hứng thời trang cho các cô gái và những người phụ nữ đã trưởng thành.

Mốt đeo khuyên rốn bắt đầu bùng nổ vào năm 1991 ở cả những cô bé
tuổi teen, những người phụ nữ trẻ và dần dần lan sang cả những thanh niên trẻ. Và chính điều này làm xuất hiện mốt áo sơ mi hở rốn để khoe chiếc khuyên. Đeo khuyên ở những bộ phận khác trên cơ thể cũng trở thành mốt sau đó, và mốt này kéo dài cho tới những năm 2000.

Thời trang giữa những năm 1990

Vào giữa thập niên 1990, giày đế bằng đã làm một cuộc trở lại ngoạn mục. Những kiểu giày nặng nề và những đôi bốt vẫn được ưa chuộng. Cùng với giày, quần jeans và quần tây ống loe cũng bắt đầu xuất hiện trên đường phố. Tại Châu Âu, những chiếc váy ôm, dài chấm sàn, thường may bằng Lycra, được mặc vào cả ngày lẫn đêm. Ảnh hưởng chính đến thời trang Anh là ban nhạc toàn nữ The Spice Girls. Diana, Công nương xứ Wales cũng được xem là một biểu tượng của thời trang. Thập niên 90 là thập niên của những siêu mẫu khi những người mẫu thời trang như Kate Moss, Claudia Schiffer, Naomi Campbell, Cindy Crawford, Tyra Banks, và Linda Evangelista trở thành những người nổi tiếng trên toàn thế giới.

Sau khi bộ phim Clueless ra mắt, những chiếc váy ca rô, màu nhạt, theo kiểu búp bê và những đôi bốt cao tới gối do diễn viên trong phim mặc được các cô gái tuổi teen trên khắp nơi ưa thích.

Trang phục trang trọng thi cổ cao với những chiếc áo jacket 3 nút cho đàn ông trở thành chuẩn mực và từ từ tăng lên 4 và thậm chí là những chiếc áo jacket có hàng nút đơn tới 5 nút, tất cả được rất nhiều nhà thiết kế hàng đầu giới thiệu. Những chiếc áo jacket có hàng nút đôi cũng được may theo phong cách cổ cao và chúng có tới hơn 12 nút ở phía trước. Những chiếc cổ Tàu cũng rất được ưa chuộng trong những năm giữa thập niên 90 cho cả áo jacket và những chiếc áo sơ mi trang trọng lẫn đời thường. Cổ Tàu rất thông dụng vào năm 1995 và 1996 và bị xếp vào dĩ vãng vào cuối những năm 90.

Thời trang cuối thập niên 1990

Vào năm 1997, nhung sọc trở thành mốt với những màu như nâu đậm, và màu xám. Quần nhung sọc tiếp tục được ưa chuộng cho tới năm 2001. Phong trào “Phục hưng thập niên 70” bắt nguồn từ sự say mê bộ phim cổ điển Dazed and Confused, bộ phim rất nổi tiếng trong thời gian này. Tóc con gái thì dài, thẳng và chẻ ngôi giữa, mốt tóc rất thời trang vào cuối thập niên 60 và 70, và bị lỗi thời vào thập niên 80.

Xu hướng thời trang Goth bắt nguồn từ năm 1980, và hồi sinh vào năm 1990 nhờ vào công lăng xê của các ban nhạc như Marilyn Manson và The Cure.

Trang phục đi làm kiểu mẫu của đàn ông trong kỷ nguyên này là những chiếc áo jacket dài có hai hàng nút và quần xếp pli.

Phong cách Punk/Goth

Phong cách Punk và những phong cách lập dị khác, để tóc dựng đứng, mặc áo thun đen, quần công nhân đen, đeo những chiếc kính mát ôm sát mặt, và mang những đôi giày có bánh xe trượt. Có rất nhiều nam thanh niên Punk và lập dị nhuộm tóc của mình thành màu xanh biển, xanh lá và màu hoa Vân Anh. Vào năm 1997, xu hướng Goth của thập niên 1980 lại nổi lên trong giới teen do sự hâm mộ cuồng nhiệt đối với các ban nhạc như The Cure và Marilyn Manson. Trang phục đen và trang điểm đen (cho cả đàn ông và đàn bà), tóc đen dài hoặc chải ra phía sau, những chiếc vòng tay khảm ngọc, và những đôi bốt đen tất cả đều tạo nên một cuộc trở lại ngoạn mục. Phong cách Punk và Goth tồn tại cho tới những năm 2000 theo những biến thể hiện đại hơn.

Quần Kaki và quần thụng dầy

Vào năm 1998, quần kaki rất được các chàng trai tuổi teen ưa chuộng, bắt chước theo tay vợt Tiger Wood. Lần đầu tiên, quần thụng dầy trở thành dòng thời trang chính thống. Quần rằn ri theo kiểu quân đội bắt đầu hồi sinh. Đối với các cô gái, áo thun lửng và những chiếc áo hai dây tiếp tục được ưa chuộng, và hiện tượng quần áo jeans giá rẻ bắt đầu xuất hiện trong cả thời trang nam lẫn thời trang nữ. Vào năm 1999, áo thun Aloha (áo thun Hawaii), trở thành mốt chính. Quần lửng, một loại quần ống hẹp dài tới nửa bắp chân, trở nên thời thượng đối với phụ nữ cũng như đàn ông. Màu hồng trở thành màu thống trị trong trang phục phụ nữ.

Phong cách trang điểm

Từ đầu cho tới giữa thập niên 90, người ta chuộng mốt trang điểm tự nhiên, tránh xa xu hướng trang điểm nặng nề và sặc sỡ của thập niên 80. Son môi màu be, màu nâu và màu môi tự nhiên rất được ưa thích trong suốt thập kỷ.

Thứ Ba, 8 tháng 12, 2009

7. THỜI TRANG THẬP NIÊN 1980 – 1990


Những thay đổi trong thế giới thời trang

Ý tưởng cho rằng ngành công nghiệp thời trang sẽ không còn khả năng đưa ra các xu hướng cho khách hàng của mình đã xuất hiện trong một khoảng thời gian. Những phát triển trong ngành công nghiệp thời trang trong khoảng từ thập niên 1980 và năm 2000 đã chứng minh điều đó. Trước thập niên 1970, những học giả viết về thời trang hay đồng ý với nhau rằng các xu hướng thời trang thường bắt đầu bằng sự chấp nhận những tinh hoa của phong cách thời trang thuộc giới thượng lưu, rồi sau đó những phong cách này sẽ từ từ trở nên ít đắt đỏ hơn. Thường thì những người giàu có khơi nguồn các phong cách thời trang là những khách hàng quen thuộc của các nhà thiết kế trang phục haute couture. Vào thập niên 60, khi mà dòng chảy thời trang chính thống bắt đầu bắt tay với phong cách hippi và giới trẻ nổi loạn, thì có một khái niệm cho rằng có một số yếu tố thời trang xuất phát từ giai cấp thấp nhất ảnh hưởng ngược trở lên.

Ban đầu, số lượng phong cách thời trang đường phố gâỵ ảnh hưởng và những nhóm văn hóa thiểu số trẻ tuổi tạo ra những phong cách này tương đối ít. Nhưng sau 4 thập kỷ, phong cách thời trang văn hóa thiểu số tăng lên rất nhanh. Phân tích những nhóm thời trang này cho cuộc triễn lãm thời trang đường phố tại bảo tàng Victoria và Albert năm 1996 cho thấy rằng hầu như phân nửa trong số chúng là kết quả của sự say mê một thể loại âm nhạc nào đó, có khi là một loại âm nhạc dân tộc đặc biệt. Một nguồn cảm hứng quan trọng thứ hai của nhóm thời trang này là thể thao. Chủng tộc, dân tộc, giai cấp xã hội, sự liên minh chính trị, những mối quan tâm đến môi trường, khuynh hướng tình dục và thói quen nghiện ngập đã liên kết các nhóm lại với nhau. Khi phong cách đường phố tăng lên với số lượng nhiều, những thành viên trong nhóm có thể nhận ra nhau dễ dàng thông qua trang phục.

Ngành công nghiệp thời trang, một ngành kinh doanh nguy hiểm bởi những thay đổi không thể đoán trước của thời trang, nhận ra rằng bản thân nó không còn có thể sao chép những xu hướng mới xuất phát từ những nhà thiết kế hàng đầu. Thay vào đó, những nhà sản xuất tập trung vào những phân khúc thị trường hẹp hoặc đặc thù nhắm vào khách hàng mục tiêu dựa trên các tiêu chí như khu vực địa lý, tuổi tác, tầng lớp xã hội, sắc tộc và phong cách sống.

Chủ nghĩa hậu hiện đại

Một số học giả cho rằng phong trào rời xa khỏi một khuynh hướng thời trang chủ lực để đến với những phân khúc khác nhau trong thị trường thời trang có thể được giải thích bằng chủ nghĩa hậu hiện đại. “Chủ nghĩa hậu hiện đại” là tên gọi của nền văn hóa trong thời kỳ hiện tại do một số nghệ sĩ, một số nhà triết học và một số nhà khoa học xã hội đặt ra. Những ví dụ sau đây có thể giúp minh họa một vài cách mà thời trang đương đại có thể giải thích một cho một số yếu tố của văn hóa hậu hiện đại.

Từ bỏ quyền lực – Sự phát triển của thời trang đường phố trong vai trò gây ảnh hưởng lên dòng thời trang chính thống, sự vắng mặt của một hình khối thời trang chủ lực duy nhất, và việc mặc quần áo bình thường trong hầu hết mọi hoàn cảnh được cho rằng là minh chứng của sự chối bỏ quyền lực trên cả hai phương diện luân lý xã hội và định chế thời trang.

Những nhóm văn hóa hay sắc tộc với những khác biệt không thể hòa hợp – Các phong cách thời trang mô phỏng theo trang phục dân tộc và văn hóa thiểu số trong cả hai dòng thời trang chính thống và những dòng thời trang nhóm văn hóa đóng vai trò ngày càng quan trọng trong thời trang.

Sự kếp hợp những yếu tố thời trang từ các phong cách khác nhau –Thí dụ như khuynh hướng kết hợp bốt đi bộ với váy mỏng hoặc thay đổi công năng của các vật dụng như là những chiếc ghim băng bị biến thành những món đồ trang sức.

Sử dụng các biểu tượng mà không quan tâm tới ý nghĩa truyền thống của chúng – Những nhà couture đã thiết kế ra những bộ trang phục cao cấp dựa trên những chiếc váy truyền thống của các nữ tu, thầy dòng và những nhóm người Do Thái chính thống.

Nguồn gốc của những xu hướng thời trang chính thập niên 1980 – 1990

THỜI TRANG HOÀI CỔ

Hoài cổ (Retro, viết tắt của từ Retrospective), là phong cách thời trang lấy cảm hứng từ quá khứ. Rất nhiều nhà thiết kế những năm 1980 và 1990 thích nhìn lại khoảng thời gian đã qua chứ không thích hướng tới tương lai. Những sự hồi sinh đáng kể của thập niên 80 là những chiếc áo lót có khung và váy phồng; những chiếc áo lót liền quần; những chiếc váy bó dài, những chiếc áo lót dài tới eo thời kỳ Jazz, những bộ trang phục trong thời kỳ Suy Thoái; áo vai rộng thời Thế Chiến Thứ Hai; những chiếc áo nâng ngực thập niên 1950, quần đấu bò, khăn choàng qua vai, và váy bó chẽn cùng những chiếc váy ngắn trong màu sắc chói chang từ thập niên 1960.

MỘT VÀI ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NHÓM XÃ HỘI LÊN THỜI TRANG.

Những nguyên gốc của thời trang thượng lưu và thời trang đường phố đều có thể được tìm thấy trong thập niên 1980 và 1990.

Những khách hàng giàu có của Thời Trang Cao Cấp.
Những chính trị gia và các nhân vật ưu tú của xã hội – Trong nhiều thế kỷ, gia đình hoàng tộc có những ảnh hưởng nhất định lên thời trang. Những nhân vật này liên tục thu hút sự quan tâm của công chúng, đặc biệt là những vấn đề có liên quan tới chuyện tình cảm. Lễ đính hôn và lễ cưới năm 1981 của Hoàng Tử Charles của nước Anh và Công Nương Diana Spencer đã giúp từ “Công nương Di” thành một điểm sáng trong làng thời trang. Không chỉ có những áo cưới được bắt chước theo kiểu áo cưới của bà lập tức trở nên bán chạy, mà báo chí còn liên tục săm soi tủ quần áo của bà trong suốt thập niên 1980.

Sau khi Ronald Reagan được bầu làm Tổng Thống Mỹ năm 1980, các hoạt động xã hội tại Nhà Trắng đã biến nơi đây thành một sân khấu trình diễn thời trang vô cùng phong phú. Giống như người tiền nhiệm Jackie Kennedy trước đây, Nancy Reagan bị phê phán rất nhiều vì khoản tiền mà bà dùng cho việc mua sắm. Cả Barbara Bush và Hillary Clinton đều trở thành tâm điểm chú ý của các tạp chí thời trang. Vào năm 1996, ít nhất cũng có một tác giả thời trang ghi nhận rằng bà Clinton không có “một hình ảnh rõ ràng”, còn Laura Bush thì được cho là có cá tính đơn giản và khiêm tốn.

Những người trẻ tuổi thành đạt và sinh viên quý tộc –
Nền kinh tế bùng phát của những năm 1980 đã đem lại vị thế kinh tế xã hội cao cho rất nhiều những người trẻ tuổi. Cho đến khi thị trường chứng khoán sụp đổ vào năm 1987, nhưng người trẻ thành đạt (những người làm việc trong lĩnh vực luật và kinh doanh) đã phấn đấu đạt được những vị thế cao trong xã hội. Những nam thanh niên thành đạt mặc những bộ “trang phục quyền lực” cài chéo kiểu Ý đi làm, và nữ giới thì mặc những bộ trang phục được may đo theo lối âu phục.

Những sinh viên quý tộc học tại trường cao đẳng Ivy League, những người sẽ trở nên thành đạt sau khi tốt nghiệp, và những người bắt chước họ sẽ mặc thời trang preppy, cái tên xuất phát từ các trường dự bị tư thục mà họ từng theo học trước khi vào trường cao đẳng. Phong cách thời trang preppy nhấn mạnh vào những chiếc áo khoác ngắn tay bằng vải tweed cổ điển, những chiếc váy hoặc những chiếc quần được cắt may theo kiểu xưa, những chiếc áo cánh và sơ mi được cắt theo kiểu âu, và những đôi giày bằng da chất lượng cao, giày mọi, giày có giây buộc và giày cao gót.

Sự bất diệt của jeans xanh và tầm quan trọng của Denim

Jeans tiếp tục trở thành một loại trang phục không thể thiếu trong tủ quần áo của mọi người. Thậm chí những nhà thiết kế haute couture cũng dùng chất liệu Denim. Denim đã được dùng cho áo jacket, váy và cho nguyên một bộ quần áo. Đối với những người thích trang phục jeans cũ, những nhà sản xuất đã phát triển một loại kỹ thuật để nhuộm và hoàn tất tạo nên vẻ cũ kỹ hoặc những vết xước và làm vải trông mềm đi. Được gọi là tiền wash, wash đá và wash axit, những chiếc quần jeans này và những loại jeans khác được sản xuất ra với nhiều màu khác nhau.

Quần jeans cũ được cắt ngắn tới đầu gối và được mặc như quần short. Những nhà sản xuất phát hiện ra điều này và bắt đầu bán chúng với cái tên quần jean lửng. Từ cuối thập niên 1980, giới trẻ bắt đầu mặc jeans xé te tua ở hai ống quần. Phong cách này khơi nguồn cho thời trang đường phố Paris vào năm 1985, và vào năm 1987 được hỗ trợ bởi sự hồi sinh của phong trào phản đối thời trang tại Mỹ thập niên 1960, được đông đảo mọi người biết đến qua cuộn phim ca nhạc năm 1988 của ca sĩ nhạc rock người Anh George Michael. Sau khi giới trẻ bắt đầu xuất hiện trong trang phục jeans tự xé, các nhà sản xuất bắt đầu sản xuất loại quần jeans này để bán ra.

Thứ Hai, 7 tháng 12, 2009

6. THỜI KỲ LÒE LOẸT 1970 - 1980


“Make Love Not War” – câu thần chú của giới trẻ thập niên 1970

Hãy giải phóng tâm trí và trang phục cũng sẽ đi theo. Mùa Hè Tình Yêu, Jimi Hendrix (người chơi đàn ghita, ca sĩ và nhạc sĩ sáng tác người Mỹ được coi là xuất sắc nhất trong lịch sử nhạc rock), những làn sóng phản đối chiến tranh Việt Nam, phong trào phụ nữ đốt áo ngực đòi quyền bình đẳng và thuốc phiện LSD. Khẩu hiệu Flower Power (Quyền Lực Hoa) được dân Hippies sử dụng vào cuối thập niên 1960, đầu những năm 1970 là biểu tượng của hệ tư tưởng chống bạo lực và thuốc phiện đã cuốn trôi tuổi trẻ trong khói thuốc mơ màng tràn ngập ảo giác. Con người chuẩn bị lên cung trăng và dường như bất kỳ thứ gì cũng có thể xảy ra. Thời trang từ chối thuyết vị lai khối hình học để trở về với phong cách lãng mạn.

Thế giới nhanh chóng bị thu hẹp lại khi mà việc đi lại bằng đường hàng không ngày càng có giá phải chăng hơn. Xã hội phương Tây ngày càng nhận rõ vị trí của mình trong một môi trường đa văn hóa. Các nhà thiết kế khai thác các dòng văn hóa khác nhau trên địa cầu, Kenzo tận dụng gốc Nhật Bản của mình còn Yves Saint Laurent thì khai thác văn hóa Phi Châu và Trung Quốc. Dấu vết của dân Hippies chẳng bao lâu thâm nhập vào tủ quần áo của phụ nữ: áo khoác bờm xờm của người Ap-ga-ni-xtăng, áo sơ mi bằng vải thô của Ấn Độ, áo choàng ponsô vùng Nam Mỹ và những chiếc váy đắp nhiều mảnh của dân du mục.

Trang phục phụ nữ màu sắc lòe loẹt sặc sỡ còn trang phục nam giới cũng chẳng thua kém gì. Zandra Rhodes và Ossie Clark cho phụ nữ mặc những bộ váy mỏng chiffon in họa tiết để họ trông giống như những cánh bướm trong thế giới mộng tưởng. Các ngôi sao nhạc nhẹ đưa ra xu hướng thời trang. David Bowie trình diễn trong những bộ cánh mang hoàn toàn phong cách rock quyến rũ và thanh thiếu niên được phép phô trương tài năng của mình. Những chiếc quần jean ống loe unisex mặc với áo thun trở thành đồng phục của đường phố, cả nam lẫn nữ đều để tóc dài và con gái thì thích mặc quần hơn là mặc váy.

Cá nhân được tự do chọn lựa từ vô số kiểu dáng. Các xu hướng mới liên tục xuất hiện với váy ngắn, váy dài và váy lưng chừng, quần ống thụng harem, quần ngắn cũn cỡn và quần nhung lửng. Hàng mặc rồi không có nghĩa là hàng chất lượng loại hai. Tại Luân Đôn, các cửa hàng thời trang như Granny Takes A Trip khuyến khích phụ nữ hiện đại trải nghiệm quá khứ và sáng tạo dáng vẻ của riêng mình. Đường phố thời trang của Anh cũng đưa ra các chọn lựa rẻ tiền hơn so với thời trang nhà thiết kế. Laura Ashley với kiểu áo tay raglan phồng bằng vải cotton dầy và Biba với những thiết kế lãng mạn bằng nhung nhàu kiểu Bô-hê-miên.

Thời trang Punk dữ dội

Khi xu hướng thời trang dữ dội (punk) tràn xuống đường phố Luân Đôn và New York thì nó đã trở thành một yếu tố gây shock và là tâm điểm của sự chú ý. Phụ nữ mặc quần áo da bó sát, da báo, những chiếc quần đầy xiềng xích, hoặc đi lại huỳnh huỵch trong những đôi giày bốt hiệu Doc Marten hoặc đeo những chiếc dao găm. Thân thể thì xỏ lỗ, đầu cạo trọc, nhuộm hay vuốt thành những que nhọn, tất cả mọi thứ đều được chế biến với dây xích, sơn màu và kim tây. Xu hướng dữ dội nổi bật như là một trong những trào lưu gây sốc nhiều nhất trong thế kỷ 20. Vivienne Westwood và Malcolm McLaren là những người điều khiển trào lưu này bằng cách bán quần áo từ cửa hàng của họ trên đường King Road mang tên Kẻ Phiến Loạn và thành lập ban nhạc Sex Pistols, cung cấp nhạc cho phong trào. Như một lẽ tất yếu, phong cách punk gây chấn động sàn diễn: Vào năm 1977, Zandra Rhodes tung ra các mẫu thiết kế với kim tây.

Quần ống rộng, quần ống loe và quần áo vét

Quần dài và áo vét mặc với quần là những xu hướng thời trang nổi bật của những năm 1970.

Quần bắt đầu hơi rộng và tiến tới mức độ loe ra như một cái chuông vào khoảng năm 1975. Sau đó chúng dần dần giảm xuống thành suông thẳng cho đến cuối thập kỷ 1970 thì lại trở về ống túm. Các loại vải phổ biến bao gồm vải nhiễu dầy, vải thun dệt len, vải thun Courtelle… Màu xanh ngọc, xanh táo và xanh ve chai là tất cả những màu thời trang được yêu thích vào đầu những năm 1970. Áo vét dạng suông dài tới mông mặc với quần dài rất hợp mốt vào thời kỳ này.

Farrah Fawcett Major và các diễn viên đồng nghiệp trong loạt phim “Charlie’s Angels” giúp truyền bá không chỉ là quần ống rộng mà còn là kiểu tóc cắt bờm xờm đòi hỏi phải sử dụng thường xuyên kẹp tóc, hay cuốn tóc hấp nóng để làm cho tóc bung ra. Rất nhiều phụ nữ mua thêm kẹp tóc điện hay cuốn tóc hấp nóng để ở nơi làm việc, nhằm giữ được độ phồng trong kiểu tóc của Farrah.

Thời trang Disco của những năm 1970

Dáng vẻ Disco bắt đầu vào những năm 1970 và được nhớ tới nhờ những chiếc quần ngắn cũn cỡn mặc với áo thun. Những chiếc quần disco bằng vải thun bóng ôm sát người trong những màu sắc chói chang nóng bỏng cùng với dải băng thun che phần ngực trên có gắn đá thường là sự ứng dụng của trang phục khiêu vũ hiện đại và tạo được hiệu ứng trên sàn nhảy disco khi bộ môn khiêu vũ này bắt đầu trở nên phổ biến. Màu vàng chanh, da báo và những chiếc áo liền quần có dây đeo quàng qua cổ và trang phục trắng bắt ánh sáng tia cực tím đã nắm bắt thời trang Disco một cách hoàn hảo.

Disco nhường chỗ cho các quy định về trang phục và chính sách kiểm tra ngay tại cửa ra vào. Người ta phải cố trông ra vẻ đàng hoàng để vào được các câu lạc bộ. Thời trang Disco không bao giờ được chấp thuận là trang phục ban

ngày, nhưng về đêm nó là trang phục duy nhất có thể làm cho người tham dự trở thành một phần của hành động, một phần trong không gian của ánh đèn nhấp nháy, những quả cầu phản chiếu và ánh đèn chiếu vào từng cá nhân bất cứ lúc nào. Áo khoác vải satin phản chiếu ánh sáng và một trái tim nằm trên vùng ngực rám nắng trong chiếc áo sơ mi hở cổ với cổ dựng đứng là điều bắt buộc, mặc dù những kiểu thời trang như thế giờ đây có thể không còn đẹp nữa.

Chấm dứt thời kỳ mộng tưởng…

Vào cuối những năm 1970, các nhà thiết kế chuyển từ phong cách biểu diễn sang phong cách thực tế. Một làn sóng mới các nhà thiết kế hàng may sẵn đưa ra liều thuốc giải độc cho những thiết kế quá rườm rà và cầu kỳ. Jean Muir thiết kế những mẫu trang phục đơn giản bằng vải thun jersey; Sonia Rykiel bán hàng dệt len thời trang tại Paris, còn tại Ý Giorgio Armani tung ra các mặt hàng cơ bản cho nữ công nhân. Ở Mỹ, Calvin Klein và Ralph Lauren tung ra mặt hàng jeans của nhà thiết kế và Halston thực hiện những bộ đồ vét và váy dài bằng vải thun bóng. Milan lúc bấy giờ trở thành thủ đô thời trang của Ý, với phong cách đặc thù là thời trang thể thao cao cấp, lông thú mịn của Fendi và sự sang trọng của Valentino. Những nhà thiết kế như thế đã đem đến cho phụ nữ những kiểu thời trang phong phú và hiện đại. Thời trang lột bỏ lớp da hão huyền và chuyển sang thập niên 1980, đem theo nó những khái niệm cơ bản và hiện đại này.

Chủ Nhật, 6 tháng 12, 2009

5. THỜI TRANG THẬP NIÊN 1960 - 1970


Ý tưởng sử dụng trang phục để thể hiện ý thức hệ của mình hoặc để chứng tỏ mình là thành viên của một hội nhóm nào đó không phải bắt nguồn vào những năm 1960. Trong suốt lịch sử của thời trang, đã có những cá nhân chọn cách ăn mặc để chứng tỏ mình là thành viên của một hội nhóm nào đó. Sau khi thời trang trở thành một nét đặc trưng của trang phục Phương Tây, một số người đã cố tình tránh các loại trang phục theo mốt để chứng tỏ rằng họ khác với số người còn lại trong xã hội trong những niềm tin về tôn giáo hay ý thức hệ, trong sự yêu thích nghệ thuật hoặc trong chính trị.

PHONG CÁCH VĂN HÓA THIỂU SỐ & PHONG CÁCH ĐƯỜNG PHỐ

Vào giữa thế kỷ 20, thời trang văn hóa thiểu số đặc biệt được chú ý với những bộ quần áo dút (áo dài đến đầu gối, quần hẹp) của những năm 1930 và 1940, với những chàng trai Teddy tại Anh vào cuối thập niên 1940 và 1950, và tại Mỹ là dân Hippies vào những năm 1950 và đầu những năm 1960. Hầu hết những phong cách này khởi nguồn từ những người trẻ, những người thích tụ tập thành nhóm trên đường phố. Như một hệ quả tất yếu, những phong cách thời trang này được gọi là “thời trang đường phố”.

Khuynh hướng tạo thành hội nhóm của những người trẻ, đặc biệt là tuổi “teen”, những người đã và đang cố gắng tách mình ra khỏi dòng chảy văn hoá chính thống thông qua trang phục được phát triển mạnh vào thập niên 1960 và 1970. Cho đến năm 2003, phong cách đường phố và phong cách văn hóa thiểu số đã trở thành yếu tố chính trong thời trang và làm biến đổi lớn đến phương cách vận hành của hệ thống thời trang. Mặc dù phong cách đường phố được dùng để phát ra thông điệp rằng mình khác với dòng văn hóa chính thống, thời trang phản văn hoá cũng mang lại những điều bổ ích cho ngành thời trang, ngành luôn khát khao những ý tưởng mới.

Một vài phong cách thời trang văn hóa thiểu số:

+ Phong cách Mods (những người Hiện Đại):

Mods và Rockers là những nhóm người trẻ tại Anh vào giữa thập niên 1960. Rockers thường dữ dội và mạnh mẽ, họ cưỡi mô tô, mặc áo jacket bằng da đen. Họ đối lập hoàn toàn với phong cách Mods, những người “xem tình yêu là tối thượng, biểu cảm, thích thơ ca và sống trong mê đắm”. Phong cách thời trang của nhóm Mods thường “thanh lịch, để tóc dài, đeo kính lớn, và trang trí quần áo bằng những phụ kiện thời Edwardian”. Trong cuộc đua tranh giành ảnh hưởng đối với giới trẻ Anh, nhóm Mods đã thắng, và vai trò của Rockers dần dần bị đẩy lùi.

Trung tâm hoạt động của nhóm Mods là đường Carnaby và đường Portobello tại Luân Đôn. Nhóm The Beatles, sau này trở nên nổi tiếng trong làng âm nhạc, đã ứng dụng những loại trang phục mang âm hưởng của phong cách Mods, và dần dần giúp cho xu hướng này ngày càng lan rộng và trở nên phổ biến hơn. Một trong những ý tưởng được xem là tư tưởng chủ đạo của phong cách này là cả đàn ông và phụ nữ, đều có quyền mặc những bộ trang phục bảnh bao và điệu đà. Vào năm 1965, Mc Gregor, một nhà sản xuất trang phục thể thao tại Mỹ, đã sản xuất và phân phối thời trang theo phong cách Mods tại Mỹ. Phong cách Mods đã gặt hái được thành công to lớn ngay tại lần đầu tiên ra mắt và nhận được nhiều lời khen ngợi của báo giới. Nhưng từ năm 1967, những phản ứng chống lại phong cách Mods dường như đã làm cho phong cách này không còn được ưa chuộng như trước nữa.

+ Phong cách Hippies:

Trong lúc đó sự hiện diện của nhóm Hippies tại Mỹ cũng là nguyên nhân gây ra những cơn sóng nhỏ trong thời trang. Lần theo các cuộc tụ tập của dân Hippies của năm 1967, các phương tiện truyền thông làm cho những bộ trang phục Hippies sặc sỡ trở nên thông dụng: Tóc dài, tới vai hoặc hơn, đối với cả đàn ông và phụ nữ; râu quai nón, băng buộc đầu, và chuỗi hạt tình yêu cho đàn ông; váy dài và những bộ trang phục giống dân du mục cho phụ nữ. Dân Hippies ráp nối những bộ trang phục giàu sức tưởng tượng được bày bán tại các cửa hàng tiết kiệm. Từ năm 1968, Ken Scott, một nhà thiết kế người Mỹ, đã thiết kế một sưu tập bao gồm những gì mà ông gọi là “phong cách Hippies du mục”. Có rất nhiều người trẻ mà bản thân họ không phải thuộc nhóm Hippies cũng rất thích một vài chi tiết nào đó của phong cách này. Giới trẻ đã tụ tập lại với nhau tại các trung tâm ca nhạc nổi tiếng như Woodstock Music và Art Fair, có khoảng 200.000 người tham dự vào tháng 08/1969. Những “chuỗi hạt, áo lông, và những chiếc khăn hoa” mà một số người khoác lên người được những người khác bắt chước.

Nhiều thanh niên tham gia vào phong trào Hippies hoặc bắt đầu đi theo một tôn giáo huyền bí do – Gurus, một thầy tôn giáo người Ấn Độ đứng đầu. Mối quan tâm đến tôn giáo Ấn Độ có thể chính là một trong những tác nhân giúp lan truyền rộng rãi trong giới trẻ các phong cách thời trang được lấy cảm hứng hoặc ảnh hưởng bởi trang phục của Ấn Độ.

Vào cuối những năm 1960, thời trang Mods đã hồi sinh trở lại. Cả hai phong cách Mods và Hippies đều nhấn mạnh vào mái tóc dài ở nam và nữ cũng như những màu sắc sặc sỡ và cả trí tưởng tượng cho trang phục nam. Cả hai phong cách đều được chấp nhận, đầu tiên là cho giới trẻ, rồi dần sau đó lan sang dòng thời trang chính thống. Tạp chí thời trang Esquire tuyên bố một cuộc Cách Mạng Con Công cho đàn ông, và những bộ trang phục mang phong cách và màu sắc lạ thường từ đồ lót cho đến đồ ngủ xuất hiện đầy trên các cửa hàng.

+ Những người phản đối chiến tranh và sự chấp nhận trang phục Jeans:

Vào những năm 1960, những người trẻ tuổi phản đối quân đội đã xem quần jeans là biểu tượng của tình đoàn kết với những người lao động. Lần theo lịch sử của quần jeans, vào những năm đầu của thập niên 1950, những chiếc quần jeans được “gắn liền với phong cách Miền Tây nước Mỹ và những hành xử vô tổ chức” và trong vở kịch và bộ phim ăn theo Blue Demin năm 1955, jeans được cho là biểu tượng của “tuổi trẻ và sự nổi loạn”. Sự liên hệ của jeans với các nhánh văn hóa thiểu số được làm to chuyện đối với công chúng Mỹ vào những năm 1960 khi jeans trở thành một loại đồng phục cho giới trẻ, những người phản đối chiến tranh. Giới trẻ bắt đầu sử dụng jeans như là một phương tiện để thể hiện mình. Họ thêu lên jeans, thêm những miếng đắp và vẽ thông điệp lên đó. Không lâu sau, ngành công nghiệp thời trang đã biến những chiếc quần công nhân cũng là loại đồng phục phản đối chiến tranh này thành loại trang phục hot nhất của thời trang.

+ Phong cách Punk (phong cách Rock dữ dội)

Với nỗ lực thể hiện cá tính kỳ dị của mình thông qua trang phục, những người say mê thứ âm nhạc gọi là Punk Rock vào năm 1977 bắt đầu mặc “những bộ trang phục luộm thuộm, lùng thùng và rách tơi tả”, nam thanh niên thường mặc áo da đen, còn thiếu nữ thì mặc những chiếc váy siêu ngắn và mang vớ lưới cá màu đen. Chất liệu vải thường được xé, đục lỗ và tạo ra những vết bẩn một cách có chủ ý. Phụ kiện đi kèm bao gồm những chiếc kim tây, đeo như bông tai hoặc xỏ xuyên qua da và lưỡi dao cạo.

Những người theo phong cách Punk vẽ mắt màu đen, son môi màu tím với hai sắc thái, tóc sơn màu xanh, đỏ và vàng. Nhà thiết kế người Anh Zandre Rhodes đã nhanh chóng kết hợp ý tưởng của phong cách Punk trong bộ sưu tập năm 1977 của mình, điều này giúp mang phong cách Punk đến với nhiều người hơn. Punk chưa bao giờ lấn áp dòng thời trang chính, nhưng vẫn tồn tại trong lòng một số bạn trẻ thậm chí cho đến sau năm 2000.

Thứ Bảy, 5 tháng 12, 2009

4. LỊCH SỬ THỜI TRANG GIAI ĐOẠN 1950-1960


Phong cách Dáng Vẻ Mới (1947 – 1956)

Phong cách thời trang “Dáng vẻ mới” (the New Look) dành cho phụ nữ nổi lên từ studio của nhà thiết kế người Pháp Christian Dior (1905 – 1957) vào năm 1947, đặt dấu chấm hết cho phong cách thời trang trong thời chiến đã thống trị ngành thời trang từ năm 1939. Đó là một phong cách thời trang với những chiếc áo jacket ôm siết chặt ở eo và váy dài phủ chân. Đây là một thay đổi to lớn đối với phong cách thời trang khắc khổ thời chiến. Sau phong trào hạn chế nguyên vật liệu trong suốt Thế Chiến Thứ Hai, sự phung phí trong việc sử dụng vải của Dior là một cú sốc lớn.

Trong suốt Thế Chiến Thứ II (1939 – 1945), các nhà thiết kế và những người thợ may đã bị ép buộc thay đổi phong cách của mình do những quy định nghiêm ngặt trong thời chiến và sự hạn chế của nguồn nguyên vật liệu; quần áo phụ nữ được may vừa vặn với vai vuông vức và váy ngắn. Mặc dù luật định cho thời trang vẫn còn có hiệu lực tại Pháp, Anh và Mỹ vào năm 1947, bộ sưu tập “Dáng vẻ mới” của nhà thiết kế thời trang Dior đã phá vỡ tất cả mọi luật lệ của thời trang thời chiến: Những bộ trang phục của ông có vai tròn, dài, váy có nhiều nếp cuộn, và có eo nhỏ. Những chiếc váy này được lót bằng những loại chất liệu cao cấp và đắt tiền như vải lanh mịn hay taffeta và được trang trí bằng những chi tiết đẹp mắt. Phụ kiện đi kèm trang phục gồm có mũ, thường được đội lệch về một bên, găng tay dài và những loại trang sức đơn giản. Như Valerie Steele viết trong quyển Năm Mươi Năm Của Thời Trang: “Sự thèm muốn vẻ thanh lịch và sang trọng đã bị đàn áp trong nhiều năm chiến tranh, và phong cách Dáng vẻ mới hứa hẹn sẽ làm thỏa mãn điều đó”. Như Dior diễn tả phong cách thời trang này khi chúng được ra mắt, Dáng vẻ mới là “một biểu tượng của tuổi trẻ và tương lai”.

Mặc dù Dior đã khởi xướng những mối liên kết mới với thị trường sản xuất hàng loạt và cấp quyền kinh doanh các thiết kế của mình, các nhà thiết kế thời trang Paris vẫn cho mình là những nghệ sĩ thực thụ được trời phú cho một khả năng “thiên bẩm”, và phải có sự khác biệt rõ ràng giữa những thiết kế tinh tế của cá nhân họ và những loại sản phẩm được bán đại trà trong các trung tâm thương mại. Tại hầu hết các nước Châu Âu, những phụ nữ trung lưu vẫn thích săn lùng những sản phẩm được sản xuất “với số lượng ít”, những người thợ may có thể copy mẫu mã của những nhà thời trang cao cấp – vì cảm giác “không đụng hàng” vẫn là một yếu tố cần thiết diệu kỳ của thời trang. Tuy nhiên các phong cách thời trang nào càng được ưa chuộng thì càng có thể bị copy một cách đại trà.

Khung cảnh thời trang Anh giữa thế kỷ 20

Những năm 1950 cũng đã đưa nước Anh từ thời kỳ khổ hạnh của những năm 1940 sang giai đoạn thịnh vượng của những năm 1960. Lịch sử thời trang không bao giờ còn giống như trước nữa khi mà tuổi teen đã trở thành tiếng nói thời trang đang lên. Một xã hội mới do chính người tiêu dùng quyết định được ra đời. Độ tuổi thời trang khoảng giữa 30 và 40 vào những năm đầu 1950 đã bị hất ra khỏi bệ vào trước cuối thập kỷ, thay vào đó là sự tôn thờ tuổi teen với sự phát triển phong cách và sự tiêu xài của riêng mình. Truớc đó, các cô gái ở độ tuổi 18 thường ăn mặc trông già y như mẹ của mình. Đường phân chia rõ rệt của thập kỷ là năm 1956 khi mà thập kỷ 50 bắt đầu thoát khỏi các kiểm soát nghiêm ngặt của những năm 1940 để đi vào những năm tôn thờ chủ nghĩa khoái lạc của những năm 1960 khi mà các phong trào tuổi trẻ ảnh hưởng mạnh đấn thời trang và phong cách sống. Có thể nói thời trang phụ nữ của những năm 1950 đã quay trở lại với sự báo thù và chủ yếu thịnh hành với hai kiểu dáng: Váy phồng tròn và váy dạng ống túm, cả hai kiểu đều đặt trọng tâm vào vòng eo thật nhỏ.

Lịch sử thời trang của Anh cũng ghi nhận rằng thương hiệu Mark & Spencer sản xuất quần áo may sẵn đẹp nhất bán trong các chuỗi cửa hàng vào thập kỷ 1950 đồng thời cũng tăng lợi nhuận của họ lên gấp 4 lần. Trang phục của họ không phải là rẻ nhất, nhưng đáng giá trị đồng tiền nhất. Chất lượng lên cao đến nỗi nhãn hiệu phải hạn chế số lượng sản xuất vì ai cũng muốn có được những bộ trang phục mang phong cách lãng mạn Paris mà giá cả lại phải chăng.

Tiêu chuẩn sản xuất quần áo may sẵn kỹ thuật cao hơn đã giải quyết những vấn đề trước cuộc chiến và các kỹ năng mới được đưa vào nhằm giúp cho các nhà thiết kế, các nhà sản xuất và các chuỗi cửa hàng có thể sản xuất quần áo chất lượng với kỹ thuật cao. Sau chiến tranh, quần áo sản xuất hàng loạt đã bỏ xa trình độ kỹ thuật kém của những năm tháng trước chiến tranh và bất kỳ dấu vết thấp hèn nào gắn với quần áo may sẵn trong thời kỳ trước đó cũng đã bị lãng quên khi mà ngay cả giới hoàng gia cũng mua quần áo may sẵn. Và Mark & Spencer nói thẳng ra là đã trở thành một phần của ngành thời trang Anh Quốc.

Giới tiêu dùng tuổi teen và phong cách “Teddy Boys”

Cho mãi đến những năm 1950, từ “tuổi teen” chưa bao giờ được đặt ra. Trẻ con được gọi là con gái và con trai và được xem là thanh niên khi có dấu hiệu của tuổi dậy thì. Rồi các bạn trẻ lớn đến độ tuổi 18 và trở thành người lớn một cách hợp pháp khi đến 21 tuổi, tuổi mà họ có thể kết hôn và xây dựng gia đình riêng, thậm chí ở nhà thuê cũng được. Kết hôn là một cách để chứng tỏ với thế giới người lớn rằng bạn thuộc về thế giới của họ và là cách để thoát khỏi tuổi dậy thì.

Trong suốt thập kỷ 1950, hàng hoạt các ảnh hưởng bao gồm cả phim ảnh, TV, tạp chí và nhạc rock đã tạo nên một nhóm người tiêu dùng mới gọi là tuổi teen. Những bạn trẻ độc thân này bắt đầu kiếm tiền và có phong cách thời trang của riêng họ, âm nhạc riêng, quán cà phê riêng, quán ba sữa riêng và thậm chí vào cuối thập kỷ có phương tiện đi lại riêng là những chiếc xe mô tô chạy bằng nhiên liệu. Làn sóng tuổi teen đột nhiên chiếm lĩnh phong cách thời trang, kiểu tóc và hình thành mốt đi du lịch nước ngoài. Một lỗ hổng giữa các thế hệ bắt đầu nổi lên giữa cha mẹ và tuổi mới lớn. Thị trường thời trang tuổi teen tăng trưởng nhanh chóng và các xu hướng và các mốt nhất thời của tuổi teen trở nên quan trọng trong ngành thiết kế may mặc.

Tại Anh Quốc vào cuối thập kỷ 40 và 50, xuất hiện nhóm “Trai Teddy” (Teddy Boys) và đây cũng là phong cách thời trang đầu tiên dành riêng cho giới trẻ. Các chàng trai thanh thiếu niên đến từ các gia đình lao động và rất ưu chuộng phong cách sang trọng của thời kỳ Edwardian: Áo jacket dài có eo, ve áo cao, tay áo có lơ ve, phối với áo ghi lê, và quần túm cắt may chất lượng. Các chàng trai Teddy Boys áp dụng phong cách này một cách cường điệu hơn: Họ thích mặc áo jacket dài, rộng, có đệm vai và thường thì có cổ vải nhung. Quần thật ôm và bó, đủ ngắn để lòi các chiếc vớ màu mè trẻ trung ra ngoài. Họ phối thêm nơ thắt cổ thật nhỏ. Vào thập niên 50, giày thấp và rộng được thay thế cho giày có mủi nhọn. Tóc của họ được để hơi dài , với bát dài và đằng sau gáy có để đuôi rùa.


Các cô nàng teen cũng theo phong trào này, họ thường mặc áo jacket dài màu xám bên ngoài áo len đen ôm khít cổ và váy đen. Họ mang vớ tơ màu sậm và giày mũi nhọn cao gót.

Sự biến chuyển của thời trang (1954 – 1960)

Không biết từ lúc nào, phong cách “Dáng vẻ mới” trở nên lỗi thời và các đường nét trong thời trang có sự thay đổi mới. Nhà thiết kế Balenciaga đã bắt đầu giới thiệu các loại đầm rộng sớm nhất vào năm 1954 và Dior đã giới thiệu các mẫu váy kiểu chữ A trong bộ sưu tập của ông vào năm 1955. Nhưng những chiếc đầm rộng này không được chấp nhận ngay. Mãi cho tới năm 1957, phong cách này bắt đầu được ưa chuộng với những kiều phối hợp mới: Những bộ vét kết hợp với những chiếc áo khoác ngắn, rộng và dài tới eo. Vài bộ được thiết kế phồng ở sau lưng và váy thì càng ngày càng hẹp. Phụ nữ ưa chuộng những chiếc áo khoác thẳng hơn và để tóc dài hơn, được chải chuốt và búi cao, chải phồng xung quanh khuôn mặt.

Thứ Sáu, 4 tháng 12, 2009

3. GIAI ĐOẠN ĐẦU THỜI KỲ TRUNG CỔ THẾ KỶ XIII



Sản xuất vải

Một cuộc cách mạng lớn trong tổ chức các nhà sản xuất vải đã diễn ra. Trong giai đoạn đầu của thời kỳ Trung cổ, những người phụ nữ làm việc trong khuê phòng hoặc tại nhà là những người đã tạo ra hầu hết các loại chất liệu vải. Từ năm 1300, công việc dệt do đàn ông đảm trách còn phụ nữ chỉ chuẩn bị sợi và quay sợi. Nhuộm và hồ vải được đặc biệt làm bằng tay và được thực hiện ở bên ngoài ngôi nhà. Trong những nghiên cứu về công việc của phụ nữ trong giai đoạn đầu của thời kỳ Trung cổ, người ta cho rằng sự suy giảm số nô lệ và sự dịch chuyển dân số từ nông thôn ra các trung tâm thành thị là một trong những lý do của những thay đổi này. Kết quả là các xưởng làm việc của phụ nữ biến mất và việc sản xuất vải được chuyển về thực hiện tại các hộ gia đình. Đàn ông, những cựu nông dân trước đây phải tìm việc làm tại các trung tâm đô thị, và nhận lãnh những công việc mà trước đây phụ nữ đảm trách.

Những sự phát triển này cùng với những thay đổi trong khoa học kỹ thuật, sự ra đời của nhà máy chạy bằng hơi nước đã cung cấp năng lượng cho việc hồ áo len từ thế kỷ thứ 10. Cho đến thế kỷ thứ 12, khung cửi nằm ngang đã cho phép người dệt có thể ngồi chứ không phải đứng như khung cửi thẳng đứng trước đây nữa. Khung cửi nằm ngang có chân bàn đạp để di chuyển sợi dọc và có thêm vào một khoang, gọi là con thoi, để điều khiển sợi ngang.
Cho đến thế kỷ thứ 12, những người thợ thủ công châu Âu đã thành lập một số trung tâm sản xuất quần áo xuất khẩu. Những phường hội thương mại được thành lập đầu tiên vào thế kỷ thứ 11, không phải bởi những người thợ mà là những lái buôn, những người muốn ngăn chặn việc nhập khẩu các loại hàng hóa cạnh tranh. Từ thế kỷ thứ 12, những người thợ thủ công bắt đầu hình thành những phường hội của riêng mình. Chỉ cần học việc tại một phường hội nào đó, một chàng thanh niên trẻ có thể trở thành một thợ thủ công thực tập, các phường hội này có thể quy định số lượng nghệ nhân và đặt ra các tiêu chuẩn chất lượng, mức giá, và quy định điều kiện làm việc.

Các phường hội kinh doanh vải vóc được phép thuê vợ và con gái để quay sợi và dệt. Những người vợ góa của các thành viên trong hội có thể thừa hưởng công việc kinh doanh của người chồng quá cố và trở thành thành viên của hội. Tuy nhiên, mức lương cho đàn bà lúc nào cũng thấp hơn của đàn ông.

Len là một loại sợi đặc biệt trong ngành kinh doanh vải sợi châu Âu. Len ở Anh được xem là loại len tốt nhất vào thời đó. Có rất nhiều len từ Anh được nhập khẩu vào Flanders, nơi mà những người thợ dệt lành nghề làm ra những tấm vải chất lượng cao. Những nhà kinh doanh vải không giới hạn số lượng quần áo len. Linen được sản xuất tại Châu Âu và được dùng để may các vật dụng trong nhà và quần áo. Sản xuất lụa, từ giữa những năm 1200, đã trở thành ngành công nghiệp chính của Italy, Sicily và Tây Ban Nha. Cotton, nguyên thủy là sản phẩm từ Ấn Độ, được người Ma Rốc giới thiệu tới Tây Ban Nha.

Trang phục cho đàn ông thế kỷ XIII

Trong suốt thế kỷ thứ 13, đàn ông thường mặc những bộ trang phục tiện dụng tương tự như những bộ trang phục được mô tả trên Mốt Trẻ các số trước đây; tuy nhiên, tên gọi của những bộ trang phục trong thời kỳ này lại có chút ít thay đổi. Nói tóm lại, một người đàn ông thường mặc những chiếc quần ống túm dài tới đầu gối hoặc ngắn hơn một tí và những chiếc áo sơ mi lót bằng vải linen. Mặc ngoài áo sơ mi lót là chiếc cote (áo tunic bên trong) và mặc chồng lên áo cote là chiếc áo surcote (áo tunic bên ngoài). Trong mùa lạnh hoặc để bảo vệ cơ thể khi ra ngoài, họ sẽ mặc thêm một chiếc áo khoác nữa, đại loại giống chiếc áo choàng có thể được cắt may ôm vừa vặn hay rộng một chút.

Sự giản dị trong trang phục dành cho quan lại càng được nhấn mạnh vào thời vua Louis IX. Louis, một người đàn ông vô cùng sùng đạo, là vị vua duy nhất của Pháp được phong Thánh bởi nhà thờ Thiên Chúa Giáo. Trong suốt thời gian trị vì của ông, những chiếc áo lâm triều trở nên giản dị hơn và sự xa hoa không được khuyến khích.

Trang phục

Đàn ông thượng lưu thường mặc những chiếc áo cote dài, còn những người lao động thì mặc ngắn hơn. Có hai loại tay áo được mô tả phổ biến nhất. Một là những chiếc tay áo dài và ôm sát. Còn lại là loại tay áo được cắt rất phồng bên dưới cánh tay, hẹp dần rồi ôm sát ở cổ tay.

Trong mô tả về áo surcote (áo tunic mặc ngoài cùng) cũng cho thấy nhiều điểm nhau trong cắt cúp. Một số người mặc những chiếc áo không tay với đường cổ tròn hoặc ngang và nách áo rộng, thân áo được ráp ngay bên dưới nách áo rộng này. Những chiếc áo khác lại có tay áo dài tới khuỷu tay hoặc ¾ cánh tay hoặc một chiếc áo tay dài và phồng ở phía trên rồi hẹp dần về phía cổ tay. Những chiếc áo surcote dài thường có đường xẻ lên tới eo để cho người mặc có thể dễ dàng cỡi ngựa hoặc dễ dàng cử động. Thậm chí cả những chiếc surcote ngắn và những chiếc áo cote không mặc kèm surcote thỉnh thoảng cũng có đường xẻ như thế này tại thân trước.

Sự khác biệt giữa áo surcote và các loại áo choàng không tay cũng như áo măng tô rất mờ nhạt. Người ta không mặc áo surcote chồng lên những loại trang phục mặc ngoài kể trên. Thành phần chính của trang phục ra phố bao gồm áo choàng và áo măng tô để mở hoặc gài kín. Áo măng tô được mặc qua vai và cài ngang phần thân trước bằng một dải ruy băng là biểu tượng của tầng lớp thượng lưu.

Áo garnache là một loại áo choàng dài với cánh tay áo rộng. Thường được lót và viền cổ bằng lông, loại áo này được mở hai bên hông, dưới cánh tay.

Áo tabard nguyên thủy là một loại trang phục ngắn, rộng với tay ngắn hoặc không tay được các thầy tu và đàn ông ở tầng lớp thấp mặc. Trong một vài trường hợp, chúng được thắt tại vùng eo dưới cánh tay một chút bằng cách may gút hoặc bằng một sợi dây vải. Vào những thế kỷ sau, loại trang phục này trở thành một bộ phận trong trang phục quân đội hoặc trang phục của người hầu trong các gia đình quý tộc. Các họa tiết trang trí được sử dụng cho áo tabard sẽ cho biết chủ của người đang mặc chúng là ai.
Áo slit hoặc fitch, loại trang phục mà những cặp mắt hiện đại ngày nay cho là trông giống như những chiếc túi áo, được làm thành những chiếc áo mặc ra bên ngoài thùng thình để người mặc có thể cho cả tay vào trong áo khi trời lạnh hoặc để lấy ví tiền treo ở thắt lưng của chiếc áo bên trong.

Tóc và trang sức cho tóc
Độ dài của tóc vừa phải và tóc được rẽ ngôi giữa. Những thanh niên trẻ có mái tóc ngắn hơn những người già. Nếu có râu quai hàm thì chúng cũng rất ngắn. Rất nhiều đàn ông không để râu vì sự có mặt của những chiếc mũ bảo hiểm kín của quân đội che hoàn toàn khuôn mặt. Điều này rất bất tiện khi có râu.

Trang sức cho tóc quan trọng nhất là mũ ni và mũ trùm đầu. Mũ trùm đầu giờ đây không đi kèm với áo choàng nữa. Vào cuối thế kỷ 13, mũ trùm đầu càng ôm sát đầu hơn nữa và chúng thường được may với một ống vải dài treo lủng lẳng phía sau lưng. Người Pháp gọi chúng là cornette, và người Anh gọi là liripipe.

Trang phục cho phụ nữ thế kỷ XIII

Ngoại trừ việc phụ nữ không mặc quần ngắn, còn thì những loại trang phục khác trong tủ quần áo của họ cũng giống như trang phục của đàn ông: Áo lót bên trong, áo cote, áo surcote, và áo mặc ra phố, áo măng tô hoặc áo choàng không tay.

Trang phục

Áo cote cũng có tay áo ôm và tay áo dài phủ cánh tay. Áo surcote cũng có tay hoặc không. Nếu có tay thì chỉ dài tới giữa khuỷu tay hoặc cổ tay và thường là rất rộng và tròn. Áo surcote không tay thường được cắt với nách tay rộng sao cho có thể nhìn thấy chiếc áo cote bên trong.

Những bộ trang phục rộng trùm kín người được cho là đứng đắn trong suốt thời đại của Thánh Louis được thay bằng những bộ trang phục vừa vặn hơn cho tới cuối thế kỷ thứ 13. Trong những tháng mùa hè ấm áp, một số phụ nữ mặc áo surcote bên ngoài áo sơ mi bên trong, nhưng điều này là rất mạo hiểm và bị coi là dấu hiệu của những hành vi đồi bại. Nhiều phụ nữ dùng ren quấn chiếc áo cote (áo tunic bên trong) thật chặt để làm nổi bật các đường cong của mình dưới nách tay áo rộng của chiếc áo surcote.

Những chiếc áo măng tô không cài nút của những người phụ nữ thuộc tầng lớp quý tộc thường mặc trong nhà cũng như khi ra phố. Áo choàng giống như những chiếc áo của thế kỷ thứ 11 và 12 vẫn tiếp tục được sử dụng, một số có kèm theo mũ trùm dành cho mùa đông lạnh giá.

Tóc và trang sức cho tóc

Những thiếu nữ trẻ tiếp tục để đầu trần trong khi những phụ nữ đã trưởng thành thì lại mang khăn trùm đầu. Bím tóc dài (như thế kỷ thứ 12) không còn nhìn thấy nữa. Mạng che mặt và lưới trùm tóc bao phủ toàn bộ mái tóc. Barbettes, fillets, và wimples vẫn tiếp tục tồn tại, mặc dù đôi lúc chúng bị trùm lên bởi lưới trùm tóc của mạng che mặt.

Giày
Không có thay đổi lớn nào trong phong cách giày so với những thế kỷ trước.
Phụ kiện cho đàn ông và đàn bà thế kỷ XIII

Phụ kiện rất đa dạng từ trang sức, bóp, ví đựng tiền, cho đến những loại vật dụng khác dùng để chứa những tài sản có giá trị, và găng tay.

Trong suốt thế kỷ thứ 13, chỉ có giới quý tộc và tăng lữ mang găng tay. Vua chúa đôi khi cũng mang những đôi găng tay có đính trang sức. Khoảng gần cuối thế kỷ 13, găng tay dường như được phổ biến hơn cho cả đàn ông lẫn đàn bà. Một số người đeo găng tay dài tới khuỷu tay, số khác mang găng dài tới cổ tay. Vài phụ nữ mang găng tay bằng linen để bảo vệ đôi tay khỏi rám nắng.
Bóp và túi hay ví được đeo tại thắt lưng (đôi khi được đeo cả trên vai), hoặc được đeo bên dưới chiếc áo ngoài cùng và thường được đeo ở khoảng để mở hay xẻ của áo.

Trang sức

ít xuất hiện trong tranh ảnh hay trong các bức tượng nhưng trang sức được mô tả nhiều trong văn chương. Hầu hết những món trang sức quan trọng là nhẫn, dây nịt, khóa cài để giữ dây ruy băng thắt ngang bụng trên áo măng tô, và ghim cài áo tròn – fermail hay affiche – được dùng để cài những chiếc áo tunic bên ngoài, những chiếc áo bliaut, hay surcote.

Mỹ phẩm

Sau cuộc Thập Tự Chinh, nước hoa và thuốc mỡ nhập khẩu từ Trung Đông được sử dụng phổ biến. Phụ nữ người Anh hoặc những phụ nữ quý tộc sử dụng sáp môi vào thế kỷ 12. Nếu chúng được nhập khẩu vào Anh để sử dụng, nơi mà giới quý tộc vẫn có mối liên hệ thân thiết với Pháp và những vùng thuộc địa của Anh tại châu lục này, người ta có thể chắc chắn rằng nó cũng được dùng tại những châu lục khác. Phụ nữ cũng dùng thuốc nhuộm tóc và kem thoa mặt.

Trang phục trong quân đội

Áo giáp có thể phân chia theo cấu tạo của chúng: (1) áo giáp mềm, được làm từ vải độn bông hoặc da, những chiếc áo giáp này có thể bị xuyên thủng bởi những vật nhọn; (2) loại thứ hai được làm từ những vòng kim loại được cài vào nhau, và (3) là những chiếc dĩa kim loại, những chiếc áo da thuộc cứng và những tấm xương cá voi, hoặc sừng trâu bò.

Vào giữa thế kỷ thứ 12, đàn ông bắt đầu mặc áo surcote bên ngoài áo giáp. Có thể thói quen này bắt nguồn từ suốt thời kỳ Thập Tự Chinh nhằm mục đích bảo vệ chiếc áo giáp khỏi nhiệt độ cao của mặt trời Địa Trung Hải, một thói quen bắt chước từ những chiến binh Hồi Giáo. Trong thời gian sau này, binh lính thường mặc áo surcote được gắn huy hiệu xác định họ thuộc lực lượng quan đội nào, đây là điều cần thiết khi mà toàn bộ khuôn mặt bị chiếc nón bảo hiểm che mất.

Vào thế kỷ thứ 12 và 13, áo giáp bao gồm luôn cả áo khoác giáp – lúc dài, lúc ngắn – vớ và giày giáp. Tay áo dài qua bàn tay tạo thành một loại găng tay giáp hở ngón. Toàn bộ bộ trang phục nặng khoảng 12-15kg và được mặc ngoài chiếc áo bông. Vào đầu thế kỷ thử 13, một loại nón bảo hiểm ôm sát bắt đầu xuất hiện. Chiếc nón này có thể so sánh với những chiếc nón của những người thợ hàn hiện tại, trừ việc nó kín ở phần sau, chỉ hở phần mắt và mũi để thở, giống như đội ngược một chiếc thùng to trùm kín đầu. Chiếc nón này được trùm lên một chiếc nón độn bông khác để bảo vệ đầu khỏi những góc cạnh của chiếc nón giáp, chiếc nón bảo hiểm này chỉ được đội trong khi đang chiến đấu bởi vì nó quá bất tiện trong việc đội hàng ngày. Trong suốt nửa sau của thế kỷ thứ 13, một chùm lông thú hay lông chim được thêm vào đỉnh của những chiếc nón bảo hiểm để mọi người có thể biết đây là một hiệp sĩ.

Thứ Tư, 2 tháng 12, 2009

2. GIAI ĐOẠN ĐẦU THỜI KỲ TRUNG CỔ THẾ KỶ XII



Những sự kiện chính trị, kinh tế và xã hội đã có những ảnh hưởng gián tiếp lẫn trực tiếp lên phong cách thời trang của thời kỳ này. Sự phong phú của nguyên liệu trong sản xuất trang phục, cách ăn mặc của các nhà hiền triết có địa vị trong xã hội, và những nhu cầu thực tế mà quần áo phải đáp ứng, từng yếu tố một đều đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển trang phục.

Những cuộc Thập Tự Chinh
Vào thế kỷ thứ 11, dưới sự thúc giục của Đức Giáo Hoàng Urban II, giới cầm quyền ở Châu Âu đã thực hiện cuộc Thập Tự Chinh đầu tiên trong số bảy cuộc Thập Tự Chinh chống lại các tín đồ Hồi Giáo. Họ ra vẻ muốn giải phóng vùng đất thánh của những người theo đạo Cơ Đốc khỏi sự cai trị của người Hồi Giáọ, nhưng động cơ thật sự trong mỗi cuộc Thập Tự Chinh đều khác nhau, ban đầu là từ sự sùng bái tôn giáo đích thực rồi biến tướng thành những cuộc tranh giành thế lực và của cải.

Vào giai đoạn cuối của các cuộc Thập Tự Chinh ở thế kỷ 13, có rất nhiều sản phẩm và công nghệ sản xuất được nhập khẩu vào Châu Âu. Quân Thập Tự Chinh học được kỹ thuật in hoa văn lên vải từ người Hồi Giáo, những người mà trước đó học được kỹ thuật này từ Giáo Hội Ai Cập. Thức ăn, gia vị, thuốc men, các công trình nghệ thuật, và vải vóc được mang trở về cho quân Thập Tự Chinh. Những loại chất liệu mới như muslin, vải dimity (loại vải cotton mỏng và bóng), và vải lụa thêu hoa được đưa vào sử dụng, kể cả những loại sợi mới và cotton. Rất nhiều quân Thập Tự Chinh dừng chân tại Constantinople trên đường ra chiến trường và trên đường về, do đó, sự ảnh hưởng mạnh mẽ của Đế Chế La Mã vào trang phục của giới quý tộc phương Tây vẫn còn tiếp diễn.
Những mối liên hệ văn hóa chồng chéo không chết theo sự kết thúc của quân Thập Tự Chinh. Thương mại ngày càng mở rộng đặc biệt là giữa các cảng biển của người Ý và Trung Đông.

Thành trì và các kiến trúc thời Trung Cổ
Lãnh chúa phong kiến và gia đình của ông có một khoảng không gian riêng trong những tòa lâu đài rộng và kiên cố. Các phòng được thông gió rất ít. Vào mùa đông, chỉ có một lò sưởi lớn để sưởi ấm. Những bộ trang phục bằng len chẳng những rất hữu ích vào mùa đông để chống lại cái lạnh, mà chúng còn được mặc vào mùa hè khi mà những tòa lâu đài vẫn tiếp tục ẩm ướt và giá lạnh. So với tiêu chuẩn hiện đại, đồ nội thất gia dụng thời đó rất đơn giản và không tiện nghi cho lắm, tuy nhiên, ngày càng có nhiều những vật dụng cao cấp như thảm, màn treo tường và ghế nệm được mang trở về từ phương Đông như là những chiến tích của cuộc Thập Tự Chinh. Bất chấp những tiến bộ này, những bộ trang phục nhiều lớp vẫn là cách ăn mặc thực tế và thoải mái nhất.

Định chế của tinh thần hiệp sĩ và tinh thần thượng võ, hệ thống huấn luyện các hiệp sĩ, quy định các chàng trai trẻ không những học nghệ thuật chiến đấu mà còn học phong cách và cử chỉ của những người thuộc tầng lớp thượng lưu. Thông thường, để làm được điều này, những hiệp sĩ trẻ phải rời khỏi gia đình và thường trú tại lâu đài của một vị lãnh chúa quyền lực. Những tòa nhà này, đặc biệt là những tòa nhà của các vị công tước hay các vị hoàng đế, thường có sẵn nhiều họa sĩ, nhà thơ và những nghệ sĩ nhạc kịch, những nhạc công và những người làm trong ngành giải trí khác. Những lâu đài tại phía Nam nước Pháp được đặc biệt ghi nhận là trung tâm của nghệ thuật, âm nhạc và văn học thơ ca. Thêm vào đó, chúng còn cung cấp sân khấu để trình diễn thời trang.

Đời sống thành thị

Sau khi thành Rome thất thủ, rất nhiều trung tâm đô thị thịnh vượng trước đây bị giảm đi dân số một cách rõ rệt. Trong suốt thế kỷ 10 và 11, đời sống thành thị đã được hồi sinh. Châu Âu đã trải qua điều này và kinh tế bắt đầu đi lên trong lĩnh vực nông nghiệp, sản xuất hàng tiêu dùng và thương mại, do đó từ thế kỷ 12 và 13, những thành phố lớn bắt đầu trở thành những trung tâm sầm uất với dân số tăng chóng mặt. Trong số những người định cư tại thành thị, có những thương gia giàu có, những người mà sự giàu có của họ được thể hiện ở chỗ họ sẽ ăn mặc y chang phong cách đang thịnh hành của giới quý tộc. Chính vì thế mà giới tăng lữ không chấp nhận sự phân biệt giai cấp không rõ ràng này.

TRANG PHỤC CHO ĐÀN ÔNG VÀ PHỤ NỮ VÀO THẾ KỶ XII
Ít nhất một vài phong cách thời trang thế kỷ XII được nhìn nhận là đã tiến rất xa so với những bộ trang phục cổ truyền trước đó. Có 3 kiểu trang phục thanh lịch trong thời kỳ này được thể hiện trong hội họa. Kiểu thứ nhất là loại áo tunic ôm sát hơn một chút so với thế kỷ trước. Đàn ông và đàn bà thuộc tầng lớp thấp thường mặc những chiếc áo tunic này. Loại thứ hai là những bộ trang phục một mảnh ôm vừa vặn, được gọi là những chiếc áo bliaut. Loại thứ ba là những loại trang phục ôm sát người với phần trên được nối với chân váy, được gọi là bliaut gironé.

Những bộ trang phục trong giai đoạn đầu thường suông, xẻ dưới cánh tay và được buộc bằng dây ren chứ không cài nút như bây giờ. Những bộ trang phục bliaut được làm cho ôm sát hơn bằng cách cắt thành đường cong ở đường sườn, gần với phần thân trên. Các miếng chèn hình tam giác (gores) được may lèn vào váy để làm cho chiếc váy rộng hơn lên.
Bliaut gironé thì lại phức tạp hơn trong kỹ thuật cắt cúp so với những bộ trang phục trong giai đoạn trước đó, có phần chân váy phồng được ráp vào phần thân áo trên. Và những bộ trang phục này cũng được xẻ và cột dây ren một bên. Đường nối giữa phần chân váy và phần áo trên ở trên thường nằm dưới đường eo tự nhiên. Phần chân váy và phần áo trên được may lại với nhau và một mảnh vải xéo thường được chèn vào để cho phần hông được vừa vặn. Những đường nối thường được giấu đi bằng những dây vải trang trí. Tuy nhiên không có bằng chứng nào cho thấy tay áo được ráp vào thân. Bliaut gironé, những bộ trang phục được cắt may cầu kỳ, ôm sát cơ thể chỉ được sử dụng hạn chế cho đàn ông và đàn bà ở tầng lớp thượng lưu. Chúng được làm từ những loại lụa đắt tiền như satin hoặc nhung, được thêu bằng chỉ vàng, và trang trí bằng đá quý.

Một điểm khác biệt nữa của trang phục bliaut minh chứng cho những thay đổi vượt bậc trong cái nhìn về tính khiêm nhường chính là cách xẻ và cột dây của nó. Cả trang phục bliaut và áo lót đều được cài bằng cách cột dây ren. Những nút thắt bằng ren này thỉnh thoảng bị tuột ra và để lộ phần da trần bên trong.

CÁC THÀNH PHẦN CỦA TRANG PHỤC NAM THẾ KỲ XII

Người ta mặc áo mantle (áo choàng không tay) khi đi ra ngoài, không có thay đổi lớn nào trong phong cách ăn mặc truyền thống.

Như đã nói trên, những người đàn ông thuộc tầng lớp thượng lưu mặc những chiếc bliaut. Cả áo tunic bên ngoài tunic mặc bên trong vẫn tiếp tục là trang phục chủ yếu cho hầu hết đàn ông, mặc dù trong vài trường hợp chiếc áo tunic bên trong không được để lộ ra bên ngoài, điều này dẫn đến sự ngộ nhận là đàn ông chỉ mặc có một chiếc áo tunic. Cánh tay áo có rất nhiều dạng, những dạng chính thường là:

- Ống tay áo ôm sát với họa tiết trang trí và cổ tay áo lật
- Tay áo dài tới khuỷu tay
- Áo tunic bên ngoài để lộ ống tay áo ôm sát của áo tunic bên trong
- Tay áo ôm sát ở phần trên và rộng dần xuống dưới thành hình cái chuông

Tóc và trang sức cho tóc

Hầu hết đàn ông đều để râu quai nón và ria mép. Chiều dài của tóc thì cũng lắm vẻ, nhưng thường không dài quá vai. Những vị tu sĩ lên án những kẻ để tóc dài và để râu ngằn thành từng chỏm nhỏ, nhọn. Những người này bị xem là không có nam tính.

Khi ra ngoài, đàn ông mang những chiếc mũ trùm đầu hay những chiếc nón tròn nhỏ có núm trên đỉnh. Mũ ni, loại mũ có cột dây dưới cằm và có hình dáng gần giống như những chiếc mũ em bé ngày nay, bắt đầu được sử dụng trong giai đoạn cuối của thế kỷ này.

Giày

Giày và bốt giống như ở thế kỷ trước được tiếp tục sử dụng. Trong số những cải tiến gây phẫn nộ cho những nhà đạo đức học là những đôi giày dài, mũi nhọn rất được những người đàn ông thượng lưu ưa chuộng.

CÁC THÀNH PHẦN CỦA TRANG PHỤC PHỤ NỮ THẾ KỶ XII
Nếu như trang phục cho những phụ nữ ở giai cấp thấp thay đổi rất ít, thì trang phục cho phụ nữ ở giai cấp thượng lưu lại có rất nhiều thay đổi như đã mô tả ở trên. Áo lót phụ nữ, áo tunic mặc bên trong, và áo tunic mặc bên ngoài đều ôm sát cơ thể. Một vài tác phẩm điêu khắc mô tả những chiếc áo bliaut gironé trong thời kỳ này cho thấy chất liệu thường được xếp pli, thêu xích móc hoặc tạo nếp nhăn.
Trang phục mặc ngoài

Tay áo bliaut dành cho nữ giới và những chiếc áo tunic thậm chí dài hơn và phóng khoáng hơn trong các đường cắt cúp so với những kiểu áo của đàn ông. Một số bức vẽ minh họa cho thấy rằng cuối những cánh tay áo ôm sát sẽ là những cổ tay lòng thòng dài tới sàn nhà. Nếu mặc cả hai áo tunic bên trong và tunic bên ngoài thì phần tay áo bên trong thường dài và vừa vặn trong khi tay áo bên ngoài thì lại có phần cổ tay loe, hoặc ống tay áo phía dưới rộng có dải băng trang trí, hoặc cánh tay hẹp ở trên và dần xòe ra ở dưới thành hình cái chuông.

Chainse là một loại trang phục bên ngoài đặc thù khác dành cho phụ nữ thượng lưu. Được may bằng những loại chất liệu có thể giặt ủi như là linen, loại trang phục này thường dài và được xếp pli. Có rất nhiều nhà lịch sử trang phục lầm lẫn giữa áo chainse và áo lót phụ nữ (chemise). Tuy nhiên, người ta nhận thấy rằng áo chainse thì được mặc ngoài áo chemise và la loại trang phục hoàn toàn tách biệt. Áo chainse không cần phải mặc với áo tunic bên ngoài, giống như “áo mặc nhà” và có vẻ đặc biệt được ưa chuộng vào cuối thế kỷ 12. Có thể loại áo này được coi là trang phục mùa hè, vì chúng có thể giặt ủi và được may bằng chất liệu nhẹ.

Những người Pháp lớn tuổi mặc áo măng-tô, từ này đã được người Anh mượn để đặt tên cho áo “mantle” (áo choàng không tay), loại áo này là một loại áo choàng mặc khi ra ngoài dành cho phụ nữ tầng lớp thượng lưu. Áo choàng ngày xưa cho giới thượng lưu thường dài, không tay, xẻ trước và lưng được thắt bằng dây ruy băng dài có móc gài cả hai bên đường cài nút thân trước.

Một số mẫu áo măng-tô cực kỳ xa xỉ. Có loại được mô tả là làm bằng hoa hồng và vải trắng từ Ấn Độ, được dệt hoặc thêu hình muông thú và hoa lá, cắt may một mảnh, và được lót bằng lông thú ướp hương thơm. Chúng có cổ điểm các đường viền màu xanh đậm và màu vàng, trên vai có móc khóa cẩn trang sức bằng hai viên hồng ngọc.

Một số áo choàng được viền hoặc trang trí bằng lông. Áo choàng lông và áo có viền lông là tên gọi chung của một số những loại trang phục được trang trí bằng lông bao gồm áo khoác ngoài, áo tunic mặc trong và áo tunic mặc ngoài.

Tóc và trang sức cho tóc

Phụ nữ ở tầng lớp cao nhất thường để tóc thành hai bím dài rồi quấn lên ở hai bên khuôn mặt. Những chiếc bím tóc này đôi khi dài gần chạm đất, và những ghi chép đương thời cho thấy rằng những món tóc giả cũng thường được thêm vào để tạo thêm độ dài ưng ý và được coi là thời trang. Những dải ruy băng trang trí có thể được bện vào bím tóc hoặc vào đoạn cuối của bím tóc để giữ những móc cài nữ trang. Tiếp đến là một chiếc mạng che mặt rộng được trùm lên, tuy nhiên người ta vẫn có thể thấy được mái tóc.

Hầu hết mọi phụ nữ đều che tóc mình hoàn toàn và mang mạng che mặt thật kín sao cho chỉ chừa lại khuôn mặt. Những cải tiến mới trong lĩnh vực khăn trùm tóc có thể kể đến những chiếc mũ barbette, fillet và wimple. Barbette là một dải băng bằng linen được mang vòng qua một bên thái dương, xuống cằm rồi lại vòng lên thái dương bên kia. Barbette thường đi cùng fillet. Fillet là một dải băng đứng bằng linen, nhìn giống như vương miện, nơi để phủ những chiếc mạng che mặt lên. Còn wimple lại là một chiếc khăn choàng bằng linen loại tốt hoặc bằng lụa quấn từ đầu xuống ngang cổ, phần giữa đặt ngay cằm và mỗi đầu khăn được giấu vào sau tai hay sau thái dương. Một chiếc wimple thường đi cùng với một chiếc mạng che mặt. Không được những phụ nữ có con nhỏ ưa chuộng sau thời kỳ Trung Cổ, wimple trở thành một phần trong trang phục của các nữ tu Thiên Chúa Giáo tại Rome và tiếp tục được sử dụng cho tới thập niên 1960.

Thứ Ba, 1 tháng 12, 2009

1. LỊCH SỬ THỜI TRANG THẾ KỶ X - XI

Đế Chế La Mã Phương Đông

Bối cảnh lịch sử

Thủ đô của Đế Chế La Mã là Constantinople, một thành phố Hy Lạp được Hoàng Đế La Mã là Constantine chọn lựa vào năm 330 để trở thành thủ đô của phần phía đông Đế Chế La Mã. Nằm tại cửa Biển Đen, thành phố này và những vùng đất lân cận nắm quyền chi phối cả thương mại đường thủy lẫn đường bộ giữa phía Tây và Trung Á, Nga, và Viễn Đông. Đồng thời, thành phố này cũng được dãy núi Balkan hiểm trở bảo vệ khỏi những thổ dân xâm lược, những người tràn qua Rome và bán đảo Ý.



Như là kết quả tất yếu, Constantinople đã trở thành thủ phủ của nền kinh tế Địa Trung Hải cho tới năm 1200. Nhưng ngoài việc đảm bảo sự tồn tại của thành phố, vị trí địa lý cũng mang lại không ít những thay đổi về tính chất cho thành phố này. Nằm tại giao điểm của Đông và Tây, thành phố này và đế chế mà nó làm thủ đô trở thành nơi hội tụ văn hóa và nghệ thuật Đông Tây phong phú. Về trang phục, người ta có thể thấy điều này phản ánh qua sự tiến hóa từ từ của phong cách La Mã với sự thêm thắt ngày càng tăng các yếu tố Đông Phương.

Trong suốt quá trình lịch sử, Đế Chế La Mã liên tục chìm ngập trong chiến tranh với hàng loạt các kẻ thù: Ba Tư, Ả Rập, Bungari, Avars, Thổ Nhĩ Kỳ Seljuk và cuối cùng là Thổ Nhĩ Kỳ Ottaman. Thậm chí quân Thập Tự Chinh cũng trở thành kẻ thù của đế chế này. Vào cuộc Thập Tự Chinh Thứ Tư, quân Thập Tự Chinh không thể chi trả khoản tiền mà người Venice đòi để vận chuyển họ đến Vùng Đất Thánh. Sau khi thương thuyết, quân Thập Tự Chinh đồng ý sẽ chiếm thành Zara cho người Venice. Nhưng sau khi chiếm được Zara, họ vẫn thiếu tiền thanh toán cho chuyến đi tới Jerusalem. Bị người Venice thúc ép trả nợ, quân Thập Tự Chinh phải chấp nhận yêu sách của một người muốn chiếm ngôi Hoàng Đế La Mã để đổi lấy lượng tiền mặt cần thiết nếu quân Thập Tự chinh giúp ông ta chiếm Constantinople. Quân Thập Tự Chinh bắt buộc tuân theo, nhưng khi người ấy nuốt lời hứa trong cuộc thỏa thuận năm 1204 thì quân Thập Tư Chinh chiếm luôn Constantinople, cướp bóc thành phố, phá hủy các tác phẩm viết tay và các công trình văn hóa nghệ thuật vô giá khác rồi lập ra Đế Chế Thập Tự Chinh. Vào năm 1261, một vị hoàng đế La Mã đã chiếm lại được Constantinople nhưng thời kỳ hoàng kim của đế chế này không còn nữa. Đế Chế La Mã bị thu hẹp chỉ nhỉnh hơn một bang của Balkan. Đời sống nghệ thuật và văn hóa của thành phố được hồi sinh, nhưng nguy cơ bị Thổ Nhĩ Kỳ xâm lược vẫn còn đó. Cuối cùng, vào năm 1453, người Thổ Nhĩ Kỳ Ottoman đã chiếm được Constantinople và hủy diệt hoàn toàn đế chế này.

Công nghệ sản xuất vải

Những người La Mã đã biết dệt ra những tấm vải đẹp. Từ thế kỷ thứ 4 cho đến thứ 6, vải linen và len đã là những loại chất liệu vô cùng thông dụng. Việc sản xuất ra các loại tơ lụa vẫn còn là bí mật được người Trung Quốc nắm giữ đầu tiên, sau đó tới người Hàn Quốc và Nhật Bản. Dần dần kiến thức sản xuất tơ lụa bắt đầu lan tràn sang phương tây. Các lái buôn đã mang tơ lụa và có thể là cả tơ thô tới Hy Lạp và Rome trước thế kỷ thứ nhất trước công nguyên, nhưng việc sản xuất lụa vẫn còn vô cùng hạn chế. Những nhà sử học La Mã cho rằng vào thế kỷ thứ 6 có hai nhà sư đã mang bí quyết của nghề nuôi tằm đến cho hoàng đế La Mã. Họ không chỉ học được cách làm cho tằm đẻ trứng, phát triển, cách cho tằm ăn, mà còn lén mang theo rất nhiều trứng tằm từ Trung Quốc sang trong một cái ống tre rỗng.

Từ thời điểm này cho tới thế kỷ thứ 9 khi người Hy Lạp ở Sicily cũng bắt đầu sản xuất tơ lụa, người La Mã độc quyền sản xuất tơ lụa cung cấp cho toàn bộ phía Tây của thế giới. Hoàng đế La Mã đã rất biết tận dụng lợi thế độc quyền này của mình bằng cách lấy một mức giá thật cao, vì vậy chỉ những người giàu nhất mới có khả năng mua được loại vải này. Gấm dệt tại La Mã đặc biệt được thèm khát. Những thiết kế dùng làm hoa văn của loại gấm này thường là các hoa văn Ba Tư nguyên bản. Những đề tài trong Thiên Chúa Giáo cũng được mô tả trên những tấm vải gấm có hoa văn phức tạp. Khi được may thành quần áo hoặc thành màn treo tường, những loại vải cao cấp này có thể được trang hoàng với những viên đá quý hoặc bán quý, những mảnh sứ nhỏ hình trái tim, họa tiết thêu, và/hoặc những miếng đính.
Chế độ Quân Chủ Phong Kiến.

Chế độ phong kiến phát triển do nhu cầu cần được bảo vệ khi đế chế Carolingian sụp đổ dưới sự tấn công của người Vikings, Magyars và Saracens. Chính phủ trung ương biến mất; pháp luật và trật tự không còn. Sự an toàn chỉ còn tìm thấy trong quân đội. Rất giống như những vị thủ lĩnh trong các bộ lạc của Đức đã tập hợp những chiến binh của mình trong các đội chiến quân, những người lãnh đạo tập trung xung quanh họ những người huấn luyện chiến binh. Rồi một sáng kiến mới, bàn đạp ngựa, đã cách mạng hóa cuộc chiến bằng cách kết hợp giữa sức mạnh con người và động vật để tạo ra những chiến binh trên lưng ngựa với gươm và thương. Những chiến binh này trở thành những chiến binh thép trên lưng ngựa. Những hiệp sĩ, là những chiến binh thuần thục, cần hàng năm trời tập luyện để điều khiển ngựa và vũ khí. Thời gian luyện tập này bắt đầu khi họ còn rất trẻ và không rẻ chút nào. Những hiệp sĩ cần không những một mà là nhiều con ngựa, được nuôi và huấn luyện đặc biệt để phục vụ cho chiến tranh. Hơn nữa, phải có người trông nom ngựa cho các hiệp sĩ này. Vì vậy, hiệp sĩ trở thành những chiến binh cao quý và chuyên nghiệp.

Các hiệp sĩ cũng là tùy tùng của một vị lãnh chúa. Từ “vassal” xuất phát từ tiếng Celtic có nghĩa là “người phục vụ”. Những người nô bộc này giống như những chiến binh trong trận chiến của quân đội Đức, những người thề trung thành với chỉ huy của mình. Để làm cho cấp dưới trung thành với mình, vị lãnh chúa sẽ ban cho họ đất đai, được gọi là thái ấp, để trả công cho những gì mà họ cống hiến cho quân đội. Các hiệp sĩ sẽ sống tại thái ấp của mình khi không còn tham gia chiến đấu. Cùng với thái ấp là những người nông nô, những người làm ruộng cho lãnh chúa và các hiệp sĩ. Nông nô có rất nhiều năm sống tự do trước khi tổ tiên của họ dâng sự tự do của bản thân và gia đình mình cho vị lãnh chúa để đổi lấy sự bảo vệ.

Theo lý thuyết, hoàng đế phong kiến là một vị lãnh chúa tối cao và là người chủ thực sự của tất cả đất đai trong lãnh thổ của mình. Những người cận thần của ông rất trung thành, nhưng nếu ông bị một người cấp dưới độc lập và hùng mạnh thách đấu, vị vua này chỉ có thể gọi những người cận thần khác của ông tập hợp binh lính của họ lại để giúp đưa vị quý tộc nổi loạn vào kỷ cương trở lại. Nếu những người cận thần này không trung thành, vị lãnh chúa không có quân đội quốc gia để huy động. Trong cấp độ địa phương, vị lãnh chúa và cận thần của mình có quyền thi hành bất kỳ luật lệ hiện hành nào.
Lãnh chúa phong kiến không chỉ chống lại những kẻ xâm lược hiếu chiến, mà còn gây chiến với những quý tộc phong kiến khác. Tuy nhiên, chiến tranh ngày đó, không phải nguy hiểm như chiến tranh bây giờ. Những hiệp sĩ mặc áo giáp sắt thường bị bắt và đòi tiền chuộc nhiều hơn là bị giết. Chỉ những người nông nô và những tá điền là bị thiệt hại nhiều hơn cả bởi vì cuộc sống, gia đình và mùa màng của họ đều bị hủy hoại trong trận chiến.

Những vị lãnh chúa và hiệp sĩ phong kiến xây lâu đài trên đất đai của mình như là một nơi an toàn để bảo vệ họ. Đầu tiên, những tòa lâu đài này được cấu trúc bằng gỗ chỉ nhằm để phòng thủ, nhưng từ thế kỷ thứ 12 chúng được xây dựng rất công phu. Lâu đài không chỉ là thành lũy phòng thủ mà còn là nhà cho vị lãnh chúa và gia đình ông ta. Chúng thường không tiện nghi, lạnh lẽo, ẩm ướt, tăm tối và rất nhiều gió bởi vì các cửa sổ ở những bức tường bên ngoài không có gì ngoài những chấn song không kính.

Chế độ phong kiến Châu Âu có rất nhiều dạng bởi vì nó được phát triển từ thực tế và tập tục của từng vùng. Khởi nguồn tại phía Bắc nước Pháp, nó lan rộng đến phía Nam, đến Đức và phía bắc nước Ý. Nước Anh không có chế độ phong kiến nguyên gốc cho tới khi công tước William của Normandy xâm lược nước Anh vào năm 1066 và trở thành vua nước Anh.

Người Anglo-Saxon và người Norman Britain

Sau khi các quân đoàn La Mã rút quân về từ đông bắc nước Đức, người Angles, Saxon và Jutes xâm lược nước Anh vào thể kỷ thứ 5, dẫn dắt những người Britons chính thống, người Celts, tây tiến sang xứ Wales, Devon, Cornwall và phía bắc Scotland. Người Anglo-Saxon an cư lạc nghiệp, kết hôn trong họ tộc và chuyển sang Cơ Đốc Giáo, và thành lập ra 7 vương quốc Anglo-Saxon. Vào thể kỷ thứ 9, người Anglo-Saxon bị người Danes (Vikings) xâm lược, chúng đến cướp bóc và giành lãnh thổ. Vua Anglo-Saxon, Alfred the Great (871-899), đã thu phục người Danes, và sáp nhập họ với triều đại của mình dưới trướng một vì vua. Khi dòng dõi của Vua Alfred qua đời năm 1066, William the Conqueror, Bá tước xứ Normandy, giành lại ngai vàng. Ông lấn chiếm nước Anh và tiêu diệt những người Anglo-Saxon chống đối muốn giành ngai vàng trong trận chiến Hastings. William I thiết lập một hệ thống nhà nước phong kiến được tổ chức và tập trung quyền lực tốt hơn Châu Âu rất nhiều. Dưới triều đại Henry II (1154-1189), một trong những vì vua vĩ đại nhất nước Anh, người có mẹ là cháu ngoại của William I và có cha thuộc gia đình Plantagenet, nước Anh đòi Pháp đòi được bồi thường những vùng đất rộng lớn từ Pháp. Những yêu sách này dựa trên một sự thật rằng William the Conqueror đã từng cai trị Normandy và Henry II đã kết hôn cùng Eleanor của xứ Aquitaine, người thừa kế một vùng đất rộng phía Vùng Tây Bắc nước Pháp. Rất nhiều năm sau đó, Pháp và Anh đánh nhau vì yêu sách này. Đỉnh điểm là Cuộc Chiến Trăm Năm (1337 – 1453), kết thúc bằng việc người Anh bị trục xuất ra khỏi nước Pháp trừ một vị trí ở Calais. Gia đình Plantagenet thống trị nước Anh cho đến năm 1399.

Thời trang nam giới thế ký X-XI

Trang phục lót bao gồm áo sơ mi mặc trong và quần đùi. Loại trang phục mà cuối cùng tiến hóa thành những chiếc áo sơ mi nam hiện đại ngày nay bắt nguồn từ trang phục lót. Mặc ngay trên da, loại trang phục này hầu như không được nhìn thấy hoặc chỉ nhìn thấy một phần. Chỉ sau thế kỷ 19, áo sơ mi mới không bị coi là trang phục lót nữa.

Những chiếc áo sơ mi mặc lót, đôi khi còn được gọi là chemises, là loại áo ngắn tay bằng vải linen. Quần đùi, hay còn gọi là braies, là những chiếc quần ống túm ở đầu gối nhưng được may rộng, thắt nịt ở eo. Chiều dài có thể thay đổi, dài từ đầu gối cho tới mắt cá chân, phủ gần hết vớ chân.

Đàn ông thường mặc hai chiếc áo tunic (áo ống dài thắt ngang lưng), cái này khoác lên cái kia, một cái ở ngoài và một cái ở trong. Thường thì cả hai chiếc áo có độ dài bằng nhau mặc dù đôi lúc chiếc áo bên trong thường hơi dài hơn một tý để lộ phần lai áo ra bên ngoài. Nếu như chiếc áo bên ngoài có chiều dài ngắn hơn, nó thường có tay áo ôm vừa vặn. Đôi khi, ống tay áo thường dài qua tay một chút và được xắn lên qua khỏi cổ tay. Nếu áo bên ngoài có chiều dài dài hơn, chúng cũng có tay áo ôm vừa vặn, hoặc (thường thấy hơn) là có tay áo rộng để lộ tay áo của chiếc áo tunic bên trong.

Áo tunic thường có cổ tròn hoặc cổ vuông. Loại trang phục này thường được thắt dây nịt ở eo. Chúng được may bằng chất liệu linen và len. Những người nghèo hầu như chỉ mặc len. Lụa được nhập khẩu bởi những người vô cùng giàu có. Sự phân chia giai cấp thể hiện ở độ dài và cách trang trí áo tunic. Áo tunic bên ngoài của những người giàu có thường được trang trí bởi những dải lụa thêu ở cổ, tay áo và các đường lai. Giới quý tộc và tăng lữ thường mặc những chiếc áo thụng dài có độ rũ vào những dịp nghi lễ trang trọng. Còn những người thợ săn và binh lính ở mọi tầng lớp thường chỉ mặc những chiếc áo tunic ngắn tiện dụng.

Áo choàng không tay (mantle) cho đàn ông có thể mặc mở hoặc kín. Những chiếc áo choàng mở được may bằng một mảnh vải có cài ở một bên vai, hoặc áo choàng kín là một mảnh vải dài với một đường rạch để có thể chui đầu qua. Áo choàng trong thế kỷ 10 thường có hình vuông, những chiếc áo choàng bán nguyệt bắt đầu xuất hiện vào thế kỷ 11. Những người đàn ông giữ vị trí chính trị quan trọng hoặc có thế lực trong tôn giáo thường mặc áo choàng quấn quanh người như áo choàng của người Hy Lạp trong những dịp lễ.



Những thanh niên trẻ thường cạo râu nhẵn nhụi, còn người trung niên thì để râu quai nón. Tóc được chẻ ngôi giữa, để rơi tự nhiên xuống hai bên mặt, dài tới gáy hoặc hơn dù là tóc thẳng hay dợn sóng.

Ngoại trừ những chiếc mũ bảo vệ đội trong chiến tranh, mũ trùm đầu (hood) và mũ có dây buộc dưới cằm (bonnet) theo kiểu Phrygian là những loại mũ thông dụng nhất. Mũ với vành mũ tròn nhỏ và chóp nhọn xuất hiện trong cộng đồng những người Do Thái vào thế kỷ 11 trong các tác phẩm hội họa. Những loại mũ này, cũng như râu quai nón có vẻ như là một phần của trang phục truyền thống được người Do Thái mặc một cách tự nguyện. Những loại mũ này có thể xuất phát từ những chiếc mũ hình nón được những người không theo đạo Hồi mặc tại các quốc gia Hồi Giáo và được đưa vào Châu Âu qua con đường Tây Ban Nha hoặc Đế Chế La Mã.

Để che đôi chân, đàn ông thường mặc những chiếc quần không đáy dài tới mắt cá chân hoặc đi bít tất dài. Bít tất dài được làm bằng chất liệu dệt, cắt và may vừa vặn với ống chân, cao tới đầu gối hoặc tới bẹn. Bao chân (còn gọi là ghệt) được làm bằng len tháo rời và quấn chặt xung quanh ống chân tới đầu gối và được mặc cùng với bít tất dài hoặc mặc không. Vớ thường ngắn hơn bít tất dài, thường có màu sáng. Vài loại vớ được trang trí ở đầu ngón chân có thể được mang trùm lên lai quần, mang chồng lên bít tất dài hoặc mang với băng chân.

Giày ống có thể là ngắn tới mắt cá chân hoặc cao hơn, tới nửa bắp chân và thường được trang trí. Giày đế bằng dành cho tuổi trung niên thường không có đế cao. Những đôi giày thường có mũi nhọn. Các đôi giày thường ôm sát và cao tới mắt cá chân, với những sợi dây bằng da hay bằng vải để thắt khi cần thiết.

Thời trang nữ thế kỷ X-XI

Thời trang của đàn ông và phụ nữ có một vài chỗ khác nhau trong suốt thế kỷ 10 và 11. Phụ nữ mặc những bộ trang phục linen thoải mái và rất gần với làn da, được gọi là “chemise” tại Pháp, tuy được cắt dài hơn nhưng những chiếc áo này cũng rất giống với chiếc áo sơ mi lót của đàn ông.

Bên ngoài chiếc áo này, phụ nữ mặc áo tunic dài chạm sàn với tay áo ôm sát và có viền thêu ở cổ, đường lai và tay áo. Ngoài cùng, họ mặc những chiếc áo tunic dài chạm sàn có tay rộng để lộ tay áo tunic bên trong. Chiếc áo tunic ngoài cùng thường được kéo lên và thắt lùng phùng ở eo. Một vài chiếc áo tunic mặc trong được trang trí đường viền tại cổ tay và đường lai.

Khi đi ra ngoài, phụ nữ thường mặc cả áo choàng kín và mở. Một số chiếc áo choàng còn được may theo kiểu áo kép được lót bằng màu sắc tương phản nhau. Áo choàng mùa đông có thể được lót bằng lông thú.

Những cô gái trẻ thường thả tóc suông và không che gì cả. Những phụ nữ đã có chồng và những người phụ nữ lớn tuổi thường che tóc bằng những tấm mạng, kéo xung quanh khuôn mặt phía dưới cằm; hoặc có thể để mở, thả hờ hai bên mặt và thả dài tới giữa ngực. Những người giàu sẽ đeo mạng bằng lụa hoặc linen; những người ở tầng lớp thấp hơn dùng những loại linen rẻ tiền hơn hoặc dùng len.

Phụ nữ mang bít tất ôm sát dài tới đầu gối. Giày phụ nữ cũng tương tự như đàn ông. Phụ nữ cũng mang những đôi dép hở với những dải băng quấn quanh mắt cá, tương tự như những đôi giày của các thầy tu. Clogs là những khối gỗ cao giúp cho đôi giày tránh được nước, bùn đất và tuyết, nhất là đối với những đôi giày da.
Có rất ít trang sức được tìm thấy trong những bức họa và điêu khắc của thời kỳ này, những tài liệu ghi lại chỉ ra rằng những người phụ nữ giàu có đeo băng đô bằng vàng và vòng cổ hoặc ngọc trai, vòng đeo tay, nhẫn và hoa tai. Những chiếc dây nịt cẩn trang sức (thường được gọi là girdles) cũng thỉnh thoảng thấy xuất hiện trong hội họa.