Thứ Tư, 9 tháng 12, 2009
8. THỜI TRANG THẬP NIÊN 1990 – 2000
Thứ Ba, 8 tháng 12, 2009
7. THỜI TRANG THẬP NIÊN 1980 – 1990
Những thay đổi trong thế giới thời trang
Ý tưởng cho rằng ngành công nghiệp thời trang sẽ không còn khả năng đưa ra các xu hướng cho khách hàng của mình đã xuất hiện trong một khoảng thời gian. Những phát triển trong ngành công nghiệp thời trang trong khoảng từ thập niên 1980 và năm 2000 đã chứng minh điều đó. Trước thập niên 1970, những học giả viết về thời trang hay đồng ý với nhau rằng các xu hướng thời trang thường bắt đầu bằng sự chấp nhận những tinh hoa của phong cách thời trang thuộc giới thượng lưu, rồi sau đó những phong cách này sẽ từ từ trở nên ít đắt đỏ hơn. Thường thì những người giàu có khơi nguồn các phong cách thời trang là những khách hàng quen thuộc của các nhà thiết kế trang phục haute couture. Vào thập niên 60, khi mà dòng chảy thời trang chính thống bắt đầu bắt tay với phong cách hippi và giới trẻ nổi loạn, thì có một khái niệm cho rằng có một số yếu tố thời trang xuất phát từ giai cấp thấp nhất ảnh hưởng ngược trở lên.
Ban đầu, số lượng phong cách thời trang đường phố gâỵ ảnh hưởng và những nhóm văn hóa thiểu số trẻ tuổi tạo ra những phong cách này tương đối ít. Nhưng sau 4 thập kỷ, phong cách thời trang văn hóa thiểu số tăng lên rất nhanh. Phân tích những nhóm thời trang này cho cuộc triễn lãm thời trang đường phố tại bảo tàng Victoria và Albert năm 1996 cho thấy rằng hầu như phân nửa trong số chúng là kết quả của sự say mê một thể loại âm nhạc nào đó, có khi là một loại âm nhạc dân tộc đặc biệt. Một nguồn cảm hứng quan trọng thứ hai của nhóm thời trang này là thể thao. Chủng tộc, dân tộc, giai cấp xã hội, sự liên minh chính trị, những mối quan tâm đến môi trường, khuynh hướng tình dục và thói quen nghiện ngập đã liên kết các nhóm lại với nhau. Khi phong cách đường phố tăng lên với số lượng nhiều, những thành viên trong nhóm có thể nhận ra nhau dễ dàng thông qua trang phục.
Ngành công nghiệp thời trang, một ngành kinh doanh nguy hiểm bởi những thay đổi không thể đoán trước của thời trang, nhận ra rằng bản thân nó không còn có thể sao chép những xu hướng mới xuất phát từ những nhà thiết kế hàng đầu. Thay vào đó, những nhà sản xuất tập trung vào những phân khúc thị trường hẹp hoặc đặc thù nhắm vào khách hàng mục tiêu dựa trên các tiêu chí như khu vực địa lý, tuổi tác, tầng lớp xã hội, sắc tộc và phong cách sống.
Chủ nghĩa hậu hiện đại
Từ bỏ quyền lực – Sự phát triển của thời trang đường phố trong vai trò gây ảnh hưởng lên dòng thời trang chính thống, sự vắng mặt của một hình khối thời trang chủ lực duy nhất, và việc mặc quần áo bình thường trong hầu hết mọi hoàn cảnh được cho rằng là minh chứng của sự chối bỏ quyền lực trên cả hai phương diện luân lý xã hội và định chế thời trang.
Những nhóm văn hóa hay sắc tộc với những khác biệt không thể hòa hợp – Các phong cách thời trang mô phỏng theo trang phục dân tộc và văn hóa thiểu số trong cả hai dòng thời trang chính thống và những dòng thời trang nhóm văn hóa đóng vai trò ngày càng quan trọng trong thời trang.
Sự kếp hợp những yếu tố thời trang từ các phong cách khác nhau –Thí dụ như khuynh hướng kết hợp bốt đi bộ với váy mỏng hoặc thay đổi công năng của các vật dụng như là những chiếc ghim băng bị biến thành những món đồ trang sức.
Sử dụng các biểu tượng mà không quan tâm tới ý nghĩa truyền thống của chúng – Những nhà couture đã thiết kế ra những bộ trang phục cao cấp dựa trên những chiếc váy truyền thống của các nữ tu, thầy dòng và những nhóm người Do Thái chính thống.
Nguồn gốc của những xu hướng thời trang chính thập niên 1980 – 1990
THỜI TRANG HOÀI CỔ
Hoài cổ (Retro, viết tắt của từ Retrospective), là phong cách thời trang lấy cảm hứng từ quá khứ. Rất nhiều nhà thiết kế những năm 1980 và 1990 thích nhìn lại khoảng thời gian đã qua chứ không thích hướng tới tương lai. Những sự hồi sinh đáng kể của thập niên 80 là những chiếc áo lót có khung và váy phồng; những chiếc áo lót liền quần; những chiếc váy bó dài, những chiếc áo lót dài tới eo thời kỳ Jazz, những bộ trang phục trong thời kỳ Suy Thoái; áo vai rộng thời Thế Chiến Thứ Hai; những chiếc áo nâng ngực thập niên 1950, quần đấu bò, khăn choàng qua vai, và váy bó chẽn cùng những chiếc váy ngắn trong màu sắc chói chang từ thập niên 1960.
MỘT VÀI ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NHÓM XÃ HỘI LÊN THỜI TRANG.
Những nguyên gốc của thời trang thượng lưu và thời trang đường phố đều có thể được tìm thấy trong thập niên 1980 và 1990.
Những khách hàng giàu có của Thời Trang Cao Cấp.
Những chính trị gia và các nhân vật ưu tú của xã hội – Trong nhiều thế kỷ, gia đình hoàng tộc có những ảnh hưởng nhất định lên thời trang. Những nhân vật này liên tục thu hút sự quan tâm của công chúng, đặc biệt là những vấn đề có liên quan tới chuyện tình cảm. Lễ đính hôn và lễ cưới năm 1981 của Hoàng Tử Charles của nước Anh và Công Nương Diana Spencer đã giúp từ “Công nương Di” thành một điểm sáng trong làng thời trang. Không chỉ có những áo cưới được bắt chước theo kiểu áo cưới của bà lập tức trở nên bán chạy, mà báo chí còn liên tục săm soi tủ quần áo của bà trong suốt thập niên 1980.
Sau khi Ronald Reagan được bầu làm Tổng Thống Mỹ năm 1980, các hoạt động xã hội tại Nhà Trắng đã biến nơi đây thành một sân khấu trình diễn thời trang vô cùng phong phú. Giống như người tiền nhiệm Jackie Kennedy trước đây, Nancy Reagan bị phê phán rất nhiều vì khoản tiền mà bà dùng cho việc mua sắm. Cả Barbara Bush và Hillary Clinton đều trở thành tâm điểm chú ý của các tạp chí thời trang. Vào năm 1996, ít nhất cũng có một tác giả thời trang ghi nhận rằng bà Clinton không có “một hình ảnh rõ ràng”, còn Laura Bush thì được cho là có cá tính đơn giản và khiêm tốn.
Những sinh viên quý tộc học tại trường cao đẳng Ivy League, những người sẽ trở nên thành đạt sau khi tốt nghiệp, và những người bắt chước họ sẽ mặc thời trang preppy, cái tên xuất phát từ các trường dự bị tư thục mà họ từng theo học trước khi vào trường cao đẳng. Phong cách thời trang preppy nhấn mạnh vào những chiếc áo khoác ngắn tay bằng vải tweed cổ điển, những chiếc váy hoặc những chiếc quần được cắt may theo kiểu xưa, những chiếc áo cánh và sơ mi được cắt theo kiểu âu, và những đôi giày bằng da chất lượng cao, giày mọi, giày có giây buộc và giày cao gót.
Sự bất diệt của jeans xanh và tầm quan trọng của Denim
Jeans tiếp tục trở thành một loại trang phục không thể thiếu trong tủ quần áo của mọi người. Thậm chí những nhà thiết kế haute couture cũng dùng chất liệu Denim. Denim đã được dùng cho áo jacket, váy và cho nguyên một bộ quần áo. Đối với những người thích trang phục jeans cũ, những nhà sản xuất đã phát triển một loại kỹ thuật để nhuộm và hoàn tất tạo nên vẻ cũ kỹ hoặc những vết xước và làm vải trông mềm đi. Được gọi là tiền wash, wash đá và wash axit, những chiếc quần jeans này và những loại jeans khác được sản xuất ra với nhiều màu khác nhau.
Quần jeans cũ được cắt ngắn tới đầu gối và được mặc như quần short. Những nhà sản xuất phát hiện ra điều này và bắt đầu bán chúng với cái tên quần jean lửng. Từ cuối thập niên 1980, giới trẻ bắt đầu mặc jeans xé te tua ở hai ống quần. Phong cách này khơi nguồn cho thời trang đường phố Paris vào năm 1985, và vào năm 1987 được hỗ trợ bởi sự hồi sinh của phong trào phản đối thời trang tại Mỹ thập niên 1960, được đông đảo mọi người biết đến qua cuộn phim ca nhạc năm 1988 của ca sĩ nhạc rock người Anh George Michael. Sau khi giới trẻ bắt đầu xuất hiện trong trang phục jeans tự xé, các nhà sản xuất bắt đầu sản xuất loại quần jeans này để bán ra.
Thứ Hai, 7 tháng 12, 2009
6. THỜI KỲ LÒE LOẸT 1970 - 1980
“Make Love Not War” – câu thần chú của giới trẻ thập niên 1970
Hãy giải phóng tâm trí và trang phục cũng sẽ đi theo. Mùa Hè Tình Yêu, Jimi Hendrix (người chơi đàn ghita, ca sĩ và nhạc sĩ sáng tác người Mỹ được coi là xuất sắc nhất trong lịch sử nhạc rock), những làn sóng phản đối chiến tranh Việt Nam, phong trào phụ nữ đốt áo ngực đòi quyền bình đẳng và thuốc phiện LSD. Khẩu hiệu Flower Power (Quyền Lực Hoa) được dân Hippies sử dụng vào cuối thập niên 1960, đầu những năm 1970 là biểu tượng của hệ tư tưởng chống bạo lực và thuốc phiện đã cuốn trôi tuổi trẻ trong khói thuốc mơ màng tràn ngập ảo giác. Con người chuẩn bị lên cung trăng và dường như bất kỳ thứ gì cũng có thể xảy ra. Thời trang từ chối thuyết vị lai khối hình học để trở về với phong cách lãng mạn.
Thế giới nhanh chóng bị thu hẹp lại khi mà việc đi lại bằng đường hàng không ngày càng có giá phải chăng hơn. Xã hội phương Tây ngày càng nhận rõ vị trí của mình trong một môi trường đa văn hóa. Các nhà thiết kế khai thác các dòng văn hóa khác nhau trên địa cầu, Kenzo tận dụng gốc Nhật Bản của mình còn Yves Saint Laurent thì khai thác văn hóa Phi Châu và Trung Quốc. Dấu vết của dân Hippies chẳng bao lâu thâm nhập vào tủ quần áo của phụ nữ: áo khoác bờm xờm của người Ap-ga-ni-xtăng, áo sơ mi bằng vải thô của Ấn Độ, áo choàng ponsô vùng Nam Mỹ và những chiếc váy đắp nhiều mảnh của dân du mục.
Trang phục phụ nữ màu sắc lòe loẹt sặc sỡ còn trang phục nam giới cũng chẳng thua kém gì. Zandra Rhodes và Ossie Clark cho phụ nữ mặc những bộ váy mỏng chiffon in họa tiết để họ trông giống như những cánh bướm trong thế giới mộng tưởng. Các ngôi sao nhạc nhẹ đưa ra xu hướng thời trang. David Bowie trình diễn trong những bộ cánh mang hoàn toàn phong cách rock quyến rũ và thanh thiếu niên được phép phô trương tài năng của mình. Những chiếc quần jean ống loe unisex mặc với áo thun trở thành đồng phục của đường phố, cả nam lẫn nữ đều để tóc dài và con gái thì thích mặc quần hơn là mặc váy.
Cá nhân được tự do chọn lựa từ vô số kiểu dáng. Các xu hướng mới liên tục xuất hiện với váy ngắn, váy dài và váy lưng chừng, quần ống thụng harem, quần ngắn cũn cỡn và quần nhung lửng. Hàng mặc rồi không có nghĩa là hàng chất lượng loại hai. Tại Luân Đôn, các cửa hàng thời trang như Granny Takes A Trip khuyến khích phụ nữ hiện đại trải nghiệm quá khứ và sáng tạo dáng vẻ của riêng mình. Đường phố thời trang của Anh cũng đưa ra các chọn lựa rẻ tiền hơn so với thời trang nhà thiết kế. Laura Ashley với kiểu áo tay raglan phồng bằng vải cotton dầy và Biba với những thiết kế lãng mạn bằng nhung nhàu kiểu Bô-hê-miên.
Thời trang Punk dữ dội
Khi xu hướng thời trang dữ dội (punk) tràn xuống đường phố Luân Đôn và New York thì nó đã trở thành một yếu tố gây shock và là tâm điểm của sự chú ý. Phụ nữ mặc quần áo da bó sát, da báo, những chiếc quần đầy xiềng xích, hoặc đi lại huỳnh huỵch trong những đôi giày bốt hiệu Doc Marten hoặc đeo những chiếc dao găm. Thân thể thì xỏ lỗ, đầu cạo trọc, nhuộm hay vuốt thành những que nhọn, tất cả mọi thứ đều được chế biến với dây xích, sơn màu và kim tây. Xu hướng dữ dội nổi bật như là một trong những trào lưu gây sốc nhiều nhất trong thế kỷ 20. Vivienne Westwood và Malcolm McLaren là những người điều khiển trào lưu này bằng cách bán quần áo từ cửa hàng của họ trên đường King Road mang tên Kẻ Phiến Loạn và thành lập ban nhạc Sex Pistols, cung cấp nhạc cho phong trào. Như một lẽ tất yếu, phong cách punk gây chấn động sàn diễn: Vào năm 1977, Zandra Rhodes tung ra các mẫu thiết kế với kim tây.
Quần ống rộng, quần ống loe và quần áo vét
Quần dài và áo vét mặc với quần là những xu hướng thời trang nổi bật của những năm 1970.
Quần bắt đầu hơi rộng và tiến tới mức độ loe ra như một cái chuông vào khoảng năm 1975. Sau đó chúng dần dần giảm xuống thành suông thẳng cho đến cuối thập kỷ 1970 thì lại trở về ống túm. Các loại vải phổ biến bao gồm vải nhiễu dầy, vải thun dệt len, vải thun Courtelle… Màu xanh ngọc, xanh táo và xanh ve chai là tất cả những màu thời trang được yêu thích vào đầu những năm 1970. Áo vét dạng suông dài tới mông mặc với quần dài rất hợp mốt vào thời kỳ này.
Farrah Fawcett Major và các diễn viên đồng nghiệp trong loạt phim “Charlie’s Angels” giúp truyền bá không chỉ là quần ống rộng mà còn là kiểu tóc cắt bờm xờm đòi hỏi phải sử dụng thường xuyên kẹp tóc, hay cuốn tóc hấp nóng để làm cho tóc bung ra. Rất nhiều phụ nữ mua thêm kẹp tóc điện hay cuốn tóc hấp nóng để ở nơi làm việc, nhằm giữ được độ phồng trong kiểu tóc của Farrah.
Thời trang Disco của những năm 1970
Dáng vẻ Disco bắt đầu vào những năm 1970 và được nhớ tới nhờ những chiếc quần ngắn cũn cỡn mặc với áo thun. Những chiếc quần disco bằng vải thun bóng ôm sát người trong những màu sắc chói chang nóng bỏng cùng với dải băng thun che phần ngực trên có gắn đá thường là sự ứng dụng của trang phục khiêu vũ hiện đại và tạo được hiệu ứng trên sàn nhảy disco khi bộ môn khiêu vũ này bắt đầu trở nên phổ biến. Màu vàng chanh, da báo và những chiếc áo liền quần có dây đeo quàng qua cổ và trang phục trắng bắt ánh sáng tia cực tím đã nắm bắt thời trang Disco một cách hoàn hảo.
Disco nhường chỗ cho các quy định về trang phục và chính sách kiểm tra ngay tại cửa ra vào. Người ta phải cố trông ra vẻ đàng hoàng để vào được các câu lạc bộ. Thời trang Disco không bao giờ được chấp thuận là trang phục ban
ngày, nhưng về đêm nó là trang phục duy nhất có thể làm cho người tham dự trở thành một phần của hành động, một phần trong không gian của ánh đèn nhấp nháy, những quả cầu phản chiếu và ánh đèn chiếu vào từng cá nhân bất cứ lúc nào. Áo khoác vải satin phản chiếu ánh sáng và một trái tim nằm trên vùng ngực rám nắng trong chiếc áo sơ mi hở cổ với cổ dựng đứng là điều bắt buộc, mặc dù những kiểu thời trang như thế giờ đây có thể không còn đẹp nữa.
Chấm dứt thời kỳ mộng tưởng…
Vào cuối những năm 1970, các nhà thiết kế chuyển từ phong cách biểu diễn sang phong cách thực tế. Một làn sóng mới các nhà thiết kế hàng may sẵn đưa ra liều thuốc giải độc cho những thiết kế quá rườm rà và cầu kỳ. Jean Muir thiết kế những mẫu trang phục đơn giản bằng vải thun jersey; Sonia Rykiel bán hàng dệt len thời trang tại Paris, còn tại Ý Giorgio Armani tung ra các mặt hàng cơ bản cho nữ công nhân. Ở Mỹ, Calvin Klein và Ralph Lauren tung ra mặt hàng jeans của nhà thiết kế và Halston thực hiện những bộ đồ vét và váy dài bằng vải thun bóng. Milan lúc bấy giờ trở thành thủ đô thời trang của Ý, với phong cách đặc thù là thời trang thể thao cao cấp, lông thú mịn của Fendi và sự sang trọng của Valentino. Những nhà thiết kế như thế đã đem đến cho phụ nữ những kiểu thời trang phong phú và hiện đại. Thời trang lột bỏ lớp da hão huyền và chuyển sang thập niên 1980, đem theo nó những khái niệm cơ bản và hiện đại này.
Chủ Nhật, 6 tháng 12, 2009
5. THỜI TRANG THẬP NIÊN 1960 - 1970
Ý tưởng sử dụng trang phục để thể hiện ý thức hệ của mình hoặc để chứng tỏ mình là thành viên của một hội nhóm nào đó không phải bắt nguồn vào những năm 1960. Trong suốt lịch sử của thời trang, đã có những cá nhân chọn cách ăn mặc để chứng tỏ mình là thành viên của một hội nhóm nào đó. Sau khi thời trang trở thành một nét đặc trưng của trang phục Phương Tây, một số người đã cố tình tránh các loại trang phục theo mốt để chứng tỏ rằng họ khác với số người còn lại trong xã hội trong những niềm tin về tôn giáo hay ý thức hệ, trong sự yêu thích nghệ thuật hoặc trong chính trị.
PHONG CÁCH VĂN HÓA THIỂU SỐ & PHONG CÁCH ĐƯỜNG PHỐ
Vào giữa thế kỷ 20, thời trang văn hóa thiểu số đặc biệt được chú ý với những bộ quần áo dút (áo dài đến đầu gối, quần hẹp) của những năm 1930 và 1940, với những chàng trai Teddy tại Anh vào cuối thập niên 1940 và 1950, và tại Mỹ là dân Hippies vào những năm 1950 và đầu những năm 1960. Hầu hết những phong cách này khởi nguồn từ những người trẻ, những người thích tụ tập thành nhóm trên đường phố. Như một hệ quả tất yếu, những phong cách thời trang này được gọi là “thời trang đường phố”.
Khuynh hướng tạo thành hội nhóm của những người trẻ, đặc biệt là tuổi “teen”, những người đã và đang cố gắng tách mình ra khỏi dòng chảy văn hoá chính thống thông qua trang phục được phát triển mạnh vào thập niên 1960 và 1970. Cho đến năm 2003, phong cách đường phố và phong cách văn hóa thiểu số đã trở thành yếu tố chính trong thời trang và làm biến đổi lớn đến phương cách vận hành của hệ thống thời trang. Mặc dù phong cách đường phố được dùng để phát ra thông điệp rằng mình khác với dòng văn hóa chính thống, thời trang phản văn hoá cũng mang lại những điều bổ ích cho ngành thời trang, ngành luôn khát khao những ý tưởng mới.
Một vài phong cách thời trang văn hóa thiểu số:
+ Phong cách Mods (những người Hiện Đại):
Mods và Rockers là những nhóm người trẻ tại Anh vào giữa thập niên 1960. Rockers thường dữ dội và mạnh mẽ, họ cưỡi mô tô, mặc áo jacket bằng da đen. Họ đối lập hoàn toàn với phong cách Mods, những người “xem tình yêu là tối thượng, biểu cảm, thích thơ ca và sống trong mê đắm”. Phong cách thời trang của nhóm Mods thường “thanh lịch, để tóc dài, đeo kính lớn, và trang trí quần áo bằng những phụ kiện thời Edwardian”. Trong cuộc đua tranh giành ảnh hưởng đối với giới trẻ Anh, nhóm Mods đã thắng, và vai trò của Rockers dần dần bị đẩy lùi.
Trung tâm hoạt động của nhóm Mods là đường Carnaby và đường Portobello tại Luân Đôn. Nhóm The Beatles, sau này trở nên nổi tiếng trong làng âm nhạc, đã ứng dụng những loại trang phục mang âm hưởng của phong cách Mods, và dần dần giúp cho xu hướng này ngày càng lan rộng và trở nên phổ biến hơn. Một trong những ý tưởng được xem là tư tưởng chủ đạo của phong cách này là cả đàn ông và phụ nữ, đều có quyền mặc những bộ trang phục bảnh bao và điệu đà. Vào năm 1965, Mc Gregor, một nhà sản xuất trang phục thể thao tại Mỹ, đã sản xuất và phân phối thời trang theo phong cách Mods tại Mỹ. Phong cách Mods đã gặt hái được thành công to lớn ngay tại lần đầu tiên ra mắt và nhận được nhiều lời khen ngợi của báo giới. Nhưng từ năm 1967, những phản ứng chống lại phong cách Mods dường như đã làm cho phong cách này không còn được ưa chuộng như trước nữa.
+ Phong cách Hippies:
Trong lúc đó sự hiện diện của nhóm Hippies tại Mỹ cũng là nguyên nhân gây ra những cơn sóng nhỏ trong thời trang. Lần theo các cuộc tụ tập của dân Hippies của năm 1967, các phương tiện truyền thông làm cho những bộ trang phục Hippies sặc sỡ trở nên thông dụng: Tóc dài, tới vai hoặc hơn, đối với cả đàn ông và phụ nữ; râu quai nón, băng buộc đầu, và chuỗi hạt tình yêu cho đàn ông; váy dài và những bộ trang phục giống dân du mục cho phụ nữ. Dân Hippies ráp nối những bộ trang phục giàu sức tưởng tượng được bày bán tại các cửa hàng tiết kiệm. Từ năm 1968, Ken Scott, một nhà thiết kế người Mỹ, đã thiết kế một sưu tập bao gồm những gì mà ông gọi là “phong cách Hippies du mục”. Có rất nhiều người trẻ mà bản thân họ không phải thuộc nhóm Hippies cũng rất thích một vài chi tiết nào đó của phong cách này. Giới trẻ đã tụ tập lại với nhau tại các trung tâm ca nhạc nổi tiếng như Woodstock Music và Art Fair, có khoảng 200.000 người tham dự vào tháng 08/1969. Những “chuỗi hạt, áo lông, và những chiếc khăn hoa” mà một số người khoác lên người được những người khác bắt chước.
Nhiều thanh niên tham gia vào phong trào Hippies hoặc bắt đầu đi theo một tôn giáo huyền bí do – Gurus, một thầy tôn giáo người Ấn Độ đứng đầu. Mối quan tâm đến tôn giáo Ấn Độ có thể chính là một trong những tác nhân giúp lan truyền rộng rãi trong giới trẻ các phong cách thời trang được lấy cảm hứng hoặc ảnh hưởng bởi trang phục của Ấn Độ.
Vào cuối những năm 1960, thời trang Mods đã hồi sinh trở lại. Cả hai phong cách Mods và Hippies đều nhấn mạnh vào mái tóc dài ở nam và nữ cũng như những màu sắc sặc sỡ và cả trí tưởng tượng cho trang phục nam. Cả hai phong cách đều được chấp nhận, đầu tiên là cho giới trẻ, rồi dần sau đó lan sang dòng thời trang chính thống. Tạp chí thời trang Esquire tuyên bố một cuộc Cách Mạng Con Công cho đàn ông, và những bộ trang phục mang phong cách và màu sắc lạ thường từ đồ lót cho đến đồ ngủ xuất hiện đầy trên các cửa hàng.
+ Những người phản đối chiến tranh và sự chấp nhận trang phục Jeans:
Vào những năm 1960, những người trẻ tuổi phản đối quân đội đã xem quần jeans là biểu tượng của tình đoàn kết với những người lao động. Lần theo lịch sử của quần jeans, vào những năm đầu của thập niên 1950, những chiếc quần jeans được “gắn liền với phong cách Miền Tây nước Mỹ và những hành xử vô tổ chức” và trong vở kịch và bộ phim ăn theo Blue Demin năm 1955, jeans được cho là biểu tượng của “tuổi trẻ và sự nổi loạn”. Sự liên hệ của jeans với các nhánh văn hóa thiểu số được làm to chuyện đối với công chúng Mỹ vào những năm 1960 khi jeans trở thành một loại đồng phục cho giới trẻ, những người phản đối chiến tranh. Giới trẻ bắt đầu sử dụng jeans như là một phương tiện để thể hiện mình. Họ thêu lên jeans, thêm những miếng đắp và vẽ thông điệp lên đó. Không lâu sau, ngành công nghiệp thời trang đã biến những chiếc quần công nhân cũng là loại đồng phục phản đối chiến tranh này thành loại trang phục hot nhất của thời trang.
+ Phong cách Punk (phong cách Rock dữ dội)
Với nỗ lực thể hiện cá tính kỳ dị của mình thông qua trang phục, những người say mê thứ âm nhạc gọi là Punk Rock vào năm 1977 bắt đầu mặc “những bộ trang phục luộm thuộm, lùng thùng và rách tơi tả”, nam thanh niên thường mặc áo da đen, còn thiếu nữ thì mặc những chiếc váy siêu ngắn và mang vớ lưới cá màu đen. Chất liệu vải thường được xé, đục lỗ và tạo ra những vết bẩn một cách có chủ ý. Phụ kiện đi kèm bao gồm những chiếc kim tây, đeo như bông tai hoặc xỏ xuyên qua da và lưỡi dao cạo.
Những người theo phong cách Punk vẽ mắt màu đen, son môi màu tím với hai sắc thái, tóc sơn màu xanh, đỏ và vàng. Nhà thiết kế người Anh Zandre Rhodes đã nhanh chóng kết hợp ý tưởng của phong cách Punk trong bộ sưu tập năm 1977 của mình, điều này giúp mang phong cách Punk đến với nhiều người hơn. Punk chưa bao giờ lấn áp dòng thời trang chính, nhưng vẫn tồn tại trong lòng một số bạn trẻ thậm chí cho đến sau năm 2000.
Thứ Bảy, 5 tháng 12, 2009
4. LỊCH SỬ THỜI TRANG GIAI ĐOẠN 1950-1960
Phong cách Dáng Vẻ Mới (1947 – 1956)
Phong cách thời trang “Dáng vẻ mới” (the New Look) dành cho phụ nữ nổi lên từ studio của nhà thiết kế người Pháp Christian Dior (1905 – 1957) vào năm 1947, đặt dấu chấm hết cho phong cách thời trang trong thời chiến đã thống trị ngành thời trang từ năm 1939. Đó là một phong cách thời trang với những chiếc áo jacket ôm siết chặt ở eo và váy dài phủ chân. Đây là một thay đổi to lớn đối với phong cách thời trang khắc khổ thời chiến. Sau phong trào hạn chế nguyên vật liệu trong suốt Thế Chiến Thứ Hai, sự phung phí trong việc sử dụng vải của Dior là một cú sốc lớn.
Mặc dù Dior đã khởi xướng những mối liên kết mới với thị trường sản xuất hàng loạt và cấp quyền kinh doanh các thiết kế của mình, các nhà thiết kế thời trang Paris vẫn cho mình là những nghệ sĩ thực thụ được trời phú cho một khả năng “thiên bẩm”, và phải có sự khác biệt rõ ràng giữa những thiết kế tinh tế của cá nhân họ và những loại sản phẩm được bán đại trà trong các trung tâm thương mại. Tại hầu hết các nước Châu Âu, những phụ nữ trung lưu vẫn thích săn lùng những sản phẩm được sản xuất “với số lượng ít”, những người thợ may có thể copy mẫu mã của những nhà thời trang cao cấp – vì cảm giác “không đụng hàng” vẫn là một yếu tố cần thiết diệu kỳ của thời trang. Tuy nhiên các phong cách thời trang nào càng được ưa chuộng thì càng có thể bị copy một cách đại trà.
Khung cảnh thời trang Anh giữa thế kỷ 20
Những năm 1950 cũng đã đưa nước Anh từ thời kỳ khổ hạnh của những năm 1940 sang giai đoạn thịnh vượng của những năm 1960. Lịch sử thời trang không bao giờ còn giống như trước nữa khi mà tuổi teen đã trở thành tiếng nói thời trang đang lên. Một xã hội mới do chính người tiêu dùng quyết định được ra đời. Độ tuổi thời trang khoảng giữa 30 và 40 vào những năm đầu 1950 đã bị hất ra khỏi bệ vào trước cuối thập kỷ, thay vào đó là sự tôn thờ tuổi teen với sự phát triển phong cách và sự tiêu xài của riêng mình. Truớc đó, các cô gái ở độ tuổi 18 thường ăn mặc trông già y như mẹ của mình. Đường phân chia rõ rệt của thập kỷ là năm 1956 khi mà thập kỷ 50 bắt đầu thoát khỏi các kiểm soát nghiêm ngặt của những năm 1940 để đi vào những năm tôn thờ chủ nghĩa khoái lạc của những năm 1960 khi mà các phong trào tuổi trẻ ảnh hưởng mạnh đấn thời trang và phong cách sống. Có thể nói thời trang phụ nữ của những năm 1950 đã quay trở lại với sự báo thù và chủ yếu thịnh hành với hai kiểu dáng: Váy phồng tròn và váy dạng ống túm, cả hai kiểu đều đặt trọng tâm vào vòng eo thật nhỏ.
Lịch sử thời trang của Anh cũng ghi nhận rằng thương hiệu Mark & Spencer sản xuất quần áo may sẵn đẹp nhất bán trong các chuỗi cửa hàng vào thập kỷ 1950 đồng thời cũng tăng lợi nhuận của họ lên gấp 4 lần. Trang phục của họ không phải là rẻ nhất, nhưng đáng giá trị đồng tiền nhất. Chất lượng lên cao đến nỗi nhãn hiệu phải hạn chế số lượng sản xuất vì ai cũng muốn có được những bộ trang phục mang phong cách lãng mạn Paris mà giá cả lại phải chăng.
Tiêu chuẩn sản xuất quần áo may sẵn kỹ thuật cao hơn đã giải quyết những vấn đề trước cuộc chiến và các kỹ năng mới được đưa vào nhằm giúp cho các nhà thiết kế, các nhà sản xuất và các chuỗi cửa hàng có thể sản xuất quần áo chất lượng với kỹ thuật cao. Sau chiến tranh, quần áo sản xuất hàng loạt đã bỏ xa trình độ kỹ thuật kém của những năm tháng trước chiến tranh và bất kỳ dấu vết thấp hèn nào gắn với quần áo may sẵn trong thời kỳ trước đó cũng đã bị lãng quên khi mà ngay cả giới hoàng gia cũng mua quần áo may sẵn. Và Mark & Spencer nói thẳng ra là đã trở thành một phần của ngành thời trang Anh Quốc.
Giới tiêu dùng tuổi teen và phong cách “Teddy Boys”
Cho mãi đến những năm 1950, từ “tuổi teen” chưa bao giờ được đặt ra. Trẻ con được gọi là con gái và con trai và được xem là thanh niên khi có dấu hiệu của tuổi dậy thì. Rồi các bạn trẻ lớn đến độ tuổi 18 và trở thành người lớn một cách hợp pháp khi đến 21 tuổi, tuổi mà họ có thể kết hôn và xây dựng gia đình riêng, thậm chí ở nhà thuê cũng được. Kết hôn là một cách để chứng tỏ với thế giới người lớn rằng bạn thuộc về thế giới của họ và là cách để thoát khỏi tuổi dậy thì.
Trong suốt thập kỷ 1950, hàng hoạt các ảnh hưởng bao gồm cả phim ảnh, TV, tạp chí và nhạc rock đã tạo nên một nhóm người tiêu dùng mới gọi là tuổi teen. Những bạn trẻ độc thân này bắt đầu kiếm tiền và có phong cách thời trang của riêng họ, âm nhạc riêng, quán cà phê riêng, quán ba sữa riêng và thậm chí vào cuối thập kỷ có phương tiện đi lại riêng là những chiếc xe mô tô chạy bằng nhiên liệu. Làn sóng tuổi teen đột nhiên chiếm lĩnh phong cách thời trang, kiểu tóc và hình thành mốt đi du lịch nước ngoài. Một lỗ hổng giữa các thế hệ bắt đầu nổi lên giữa cha mẹ và tuổi mới lớn. Thị trường thời trang tuổi teen tăng trưởng nhanh chóng và các xu hướng và các mốt nhất thời của tuổi teen trở nên quan trọng trong ngành thiết kế may mặc.
Tại Anh Quốc vào cuối thập kỷ 40 và 50, xuất hiện nhóm “Trai Teddy” (Teddy Boys) và đây cũng là phong cách thời trang đầu tiên dành riêng cho giới trẻ. Các chàng trai thanh thiếu niên đến từ các gia đình lao động và rất ưu chuộng phong cách sang trọng của thời kỳ Edwardian: Áo jacket dài có eo, ve áo cao, tay áo có lơ ve, phối với áo ghi lê, và quần túm cắt may chất lượng. Các chàng trai Teddy Boys áp dụng phong cách này một cách cường điệu hơn: Họ thích mặc áo jacket dài, rộng, có đệm vai và thường thì có cổ vải nhung. Quần thật ôm và bó, đủ ngắn để lòi các chiếc vớ màu mè trẻ trung ra ngoài. Họ phối thêm nơ thắt cổ thật nhỏ. Vào thập niên 50, giày thấp và rộng được thay thế cho giày có mủi nhọn. Tóc của họ được để hơi dài , với bát dài và đằng sau gáy có để đuôi rùa.
Các cô nàng teen cũng theo phong trào này, họ thường mặc áo jacket dài màu xám bên ngoài áo len đen ôm khít cổ và váy đen. Họ mang vớ tơ màu sậm và giày mũi nhọn cao gót.
Sự biến chuyển của thời trang (1954 – 1960)
Không biết từ lúc nào, phong cách “Dáng vẻ mới” trở nên lỗi thời và các đường nét trong thời trang có sự thay đổi mới. Nhà thiết kế Balenciaga đã bắt đầu giới thiệu các loại đầm rộng sớm nhất vào năm 1954 và Dior đã giới thiệu các mẫu váy kiểu chữ A trong bộ sưu tập của ông vào năm 1955. Nhưng những chiếc đầm rộng này không được chấp nhận ngay. Mãi cho tới năm 1957, phong cách này bắt đầu được ưa chuộng với những kiều phối hợp mới: Những bộ vét kết hợp với những chiếc áo khoác ngắn, rộng và dài tới eo. Vài bộ được thiết kế phồng ở sau lưng và váy thì càng ngày càng hẹp. Phụ nữ ưa chuộng những chiếc áo khoác thẳng hơn và để tóc dài hơn, được chải chuốt và búi cao, chải phồng xung quanh khuôn mặt.